MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ LỒNG GHÉP GIỚI TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

18/04/2015

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ LỒNG GHÉP GIỚI TRONG DỰ THẢO

BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

Nguyễn Hồng Hải

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

I. TỔNG QUAN CHUNG

I.1. Dưới góc độ mục tiêu, quan điểm xây dựng dự án Bộ luật

1. Mục tiêu

Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự lần này là nhằm thực hiện hai mục tiêu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xây dựng Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia;

Thứ hai, ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

2. Quan điểm chỉ đạo

Để thực hiện được hai mục tiêu cơ bản nêu trên, dự thảo Bộ luật được xây dựng trên cơ sở quán triệt những quan điểm chỉ đạo sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ các Nghị quyết của Đảng[1], đặc biệt Hiến pháp năm 2013, khắc phục các bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật dân sự hiện hành để Bộ luật dân sự thực sự phát huy được ba vai trò cơ bản là: (1) Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ dân sự; (2) Tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định trong giao lưu dân sự, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Là công cụ pháp lý hữu hiệu để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các thiết chế dân chủ trong xã hội, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Thứ hai, xây dựng Bộ luật dân sự thành bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; có tính khái quát, dự báo và khả thi để một mặt, bảo đảm tính ổn định của Bộ luật, mặt khác, đáp ứng được kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự; cố gắng cao nhất để kéo dài tuổi thọ của Bộ luật dân sự trong nhiều thập niên, tạo cơ sở cho việc ổn định môi trường pháp lý của đời sống nhân dân và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc;

Thứ ba, bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp với thực tiễn của pháp luật dân sự, cũng như các giá trị văn hóa, tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam; có sự tham khảo kinh nghiệm xây dựng Bộ luật dân sự của một số nước.

I.2. Dưới góc độ đánh giá bối cảnh thuận lợi và khó khăn trong thực hiện dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) nói chung và trong lồng ghép bình đẳng giới nói riêng

1. Về thuận lợi

Thứ nhất, việc sửa đổi BLDS lần này được tiến hành trong một giai đoạn mới trong lịch sử lập hiến, lập pháp của Việt Nam, đặc biệt, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã ghi nhận cụ thể hơn về thực hiện, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng Hiến pháp và luật, đồng thời ghi nhận nhiều quyền và cách thức bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, xã hội... Một số quan điểm, tư tưởng mới về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như: tư tưởng về tự do hợp đồng, bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp không phụ thuộc vào hình thức sở hữu và thành phần kinh tế là các tiền đề chính trị - pháp lý rất quan trọng đối với việc sửa đổi BLDS;                 

Thứ hai, dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi) được xác định là một trong các dự án luật có tầm quan trọng đặc biệt trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII (sửa đổi Hiến pháp 1992, Luật đất đai, Bộ luật hình sự, Luật doanh nghiệp…) - Chương trình có mục tiêu cơ bản là nhằm hoàn thiện thể chế với những yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật có tính ổn định, chuẩn mực, nhất quán, hệ thống và minh bạch;

Thứ ba, sau gần ba thập kỷ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn. Việc thừa nhận sở hữu tư nhân và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển; việc cải thiện quyền tự do giao dịch, lao động; tự do tiền tệ; tự do đầu tư; việc giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và được phép chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển đổi, cho hoặc tặng, góp vốn để kinh doanh; việc nỗ lực hình thành đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế…, cũng như việc nỗ lực cải cách thể chế kinh tế, làm cho thể chế kinh tế thị trường của chúng ta ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế;

Thứ tư, Việt Nam đã và đang không ngừng mở rộng quan hệ ra thế giới và đã đạt được nhiều thành quả trong hội nhập quốc tế. Việt Nam đã và đang là thành viên của nhiều công ước quốc tế của Liên hợp quốc về tôn trọng, bảo vệ quyền con người, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ…; trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tham gia ngày càng sâu rộng vào Diễn đàn APEC, các tổ chức khu vực… tham gia các hiệp định thương mại song phương, đa phương AFTA, Hiệp định thương mại Việt – Mỹ… và đang xúc tiến tham gia Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với những cam kết “phù hợp hóa” luật pháp quốc gia với các hiệp định và quy định của các tổ chức này trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và sở hữu theo cơ chế kinh tế thị trường;

Thứ năm, hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện với nhiều luật điều chỉnh chuyên ngành, góp phần giảm thiểu gánh nặng cho Bộ luật dân sự trong giải quyết những quan hệ dân sự cụ thể, tính ổn định không cao, từ đó tạo nền tảng tốt hơn để phát huy vai trò của Bộ luật dân sự là luật chung của hệ thống luật điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng.

2. Về khó khăn

Thứ nhất, hệ thống các văn bản luật điều chỉnh các quan hệ dân sự đã tương đối hoàn chỉnh, bao quát hầu hết các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, đất đai, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư, bảo hiểm... Bên cạnh sự đồng bộ, thống nhất, thì hệ thống pháp luật này cũng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập về sự chồng chéo, mẫu thuẫn và trùng lắp trong quy định của pháp luật. Việc sửa đổi Bộ luật dân sự đặt ra yêu cầu đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời với vị trí là luật chung, việc sửa đổi Bộ luật dân sự có thể tác động đến quy định của hệ thống các văn bản luật chuyên ngành (thương mại, hôn nhân và gia đình, nhà ở...);

Thứ hai, hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự còn có nhiều “tầng lớp”, “cấp độ” văn bản khác nhau. Văn bản luật được ban hành phải chờ các văn bản dưới luật hướng dẫn mới đi vào thực tiễn cuộc sống, làm ảnh hưởng đến tính khả thi của Luật. Trong một số lĩnh vực, văn bản dưới luật có “nguy cơ” trái quy định của Luật, nhưng lại có tính phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hơn. Thực trạng đó, đòi hỏi việc sửa đổi Bộ luật dân sự phải có sự rà soát, luật hóa những vấn đề này đảm bảo tính trật tự, đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật;

Thứ ba, các quan hệ dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự rất rộng và thường Bộ luật dân sự cũng như các luật chuyên ngành sẽ không quy định được hết các quan hệ này. Nếu giải quyết vấn đề trên bằng việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, thì Bộ luật dân sự và hệ thống luật tư sẽ luôn trong tình trạng không ổn định. Một trong những giải pháp được nhiều nước áp dụng để đảm bảo sự ổn định của Bộ luật dân sự và hệ thống luật tư là thừa nhận quyền của tòa án trong giải thích pháp luật. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Tòa án chưa có thẩm quyền này. Đây là một khó khăn lớn để thực hiện mục tiêu xây dựng Bộ luật dân sự có sự ổn định và tính khái quát cao;

Thứ tư, Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chưa có “tiền lệ”. Do đó, việc xây dựng Bộ luật dân sự với mục tiêu là luật của quan hệ thị trường gặp nhiều vướng mắc, khó khăn cả về lý luận và thực tiễn.

Trước những bối cảnh thuận lợi, khó khăn nêu trên, Nghị quyết số 101/NQ-CP ngày 20 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật đã nhấn mạnh:

“Việc sửa đổi Bộ luật dân sự lần này cần bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước; cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phù hợp với Hiến pháp; có tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam; bảo đảm nguyên tắc Bộ luật dân sự là Bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật tư, theo đó Bộ luật quy định các vấn đề có tính nguyên tắc, các luật chuyên ngành quy định về các vấn đề có tính chuyên ngành”.

I.3. Thông tin cơ bản về phạm vi, nội dung của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)[2]

1. Về phạm vi sửa đổi

Căn cứ vào mục tiêu, quan điểm xây dựng dự án Bộ luật như đã báo cáo ở trên, phạm vi sửa đổi, bổ sung BLDS lần này được xác định là cơ bản và toàn diện. Trên cơ sở phạm vi sửa đổi như vậy, dự thảo Bộ luật có tổng số 712 điều, được bố cục thành 6 phần, 26 chương. So với BLDS năm 2005, dự thảo Bộ luật giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 176 điều, bãi bỏ 147 điều.

2. Về bố cục

Dự thảo Bộ luật có 6 phần, bao gồm:

2.1. Phần thứ nhất “Quy định chung” (từ Điều 1 đến Điều 180): Quy định về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, áp dụng pháp luật dân sự; xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự; địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự; tài sản; giao dịch dân sự; đại diện; thời hạn và thời hiệu.

2.2. Phần thứ hai “Quyền sở hữu và các vật quyền khác” (từ Điều 181 đến Điều 303): Quy định về căn cứ xác lập và thời điểm xác lập quyền sở hữu, các vật quyền khác và hiệu lực đối kháng với người thứ ba; bảo vệ, hạn chế quyền sở hữu và các vật quyền khác; chiếm hữu, quyền sở hữu và các vật quyền khác (quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền ưu tiên).

2.3. Phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng” (từ Điều 304 đến Điều 631):  Quy định về căn cứ phát sinh; thực hiện nghĩa vụ; các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; trách nhiệm dân sự; giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng; các hợp đồng thông dụng; thực hiện công việc không có ủy quyền; nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

2.4. Phần thứ tư “Thừa kế” (từ Điều 632 đến Điều 688): Bao gồm, quy định chung về thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia di sản.

2.5. Phần thứ năm “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” (từ Điều 689 đến Điều 710): Bao gồm, quy định chung, pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân, về quan hệ tài sản, nhân thân có yếu tố nước ngoài.

2.6. Phần thứ sáu “Điều khoản thi hành (từ Điều 711 đến Điều 712): Quy định về hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ LỒNG GHÉP GIỚI TRONG DỰ ÁN BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) CỦA VIỆT NAM

1. Từ góc độ vị trí của Bộ luật dân sự

Với vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng, Bộ luật dân sự có ba vai trò cơ bản sau:

Vai trò của Bộ luật dân sự

Yêu cầu về lồng ghép giới

Bộ luật này quy định những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các quan hệ khác hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

 

Việc lồng ghép giới vừa phải mang tính nguyên tắc, vừa có tính cụ thể:

- Tính nguyên tắc:

(1) Bộ luật này phải có các quy định đủ để bao quát được toàn diện, đầy đủ vấn đề giới trong các quan hệ thuộc lĩnh vực tư;

(2) Đề ra những nguyên tắc, cơ sở pháp lý để định hướng và chi phối hoạt động  lồng ghép giới trong xây dựng hệ thống văn bản pháp luật chuyên ngành

Luật khác có liên quan (sau đây gọi là luật khác) điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại mục 1 của Chương này.

(3) Trường hợp luật khác không có quy định; có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này hoặc có xung đột về nội dung làm cho quyền dân sự của chủ thể không được tôn trọng, bảo vệ thì quy định của Bộ luật này được áp dụng."

- Tính cụ thể: xác định đúng những quan hệ ổn định, những chế định cơ bản không thể thay thế (đặc biệt quy định cá nhân, đại diện, thừa kế, trách nhiệm dân sư, quy định chung về hợp đồng….) thì cần phải có cách tiếp cận cụ thể nhất để có thể bảo đảm tính ổn định, thống nhất và thực chất trong lồng ghép giới (ví dụ: quyền nhân thân của cá nhân, trợ giúp cho người yếu thế về năng lực hành vi, bảo vệ bên yếu thế trong quan hệ nghĩa vụ, hợp đồng…):

Thảo luận trong lấy ý kiến nhân dân vừa qua cho thấy có nên bổ sung hay không nên bổ sung những vấn đề như sau:

- Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ được xác định thì họ, tên của con theo họ của người này. Trường hợp cả cha và mẹ chưa được xác định thì họ, tên của người được khai sinh được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh.

Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này và luật khác là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình” vào trong quy định vể quyền đối với họ, tên.

- “1. Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.

2. Khi phát hiện người bị tai nạn, bệnh tật mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm hoặc yêu cầu cá nhân, tổ chức khác có những điều kiện cần thiết để đưa ngay đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi gần nhất; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo đúng quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh”.

- “Quyền sinh con của phụ nữ được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình”…..

BLDS quy định những nguyên lý pháp lý cơ bản không thể không tuân thủ của nền “kinh tế thị trường” về công nhận và bảo đảm bình đẳng (về mặt pháp lý), quyền tự quyết của tất cả chủ thể về xác lập, thực hiện các hành vi pháp lý trong đời sống dân sự của mình và tự chịu trách nhiệm về chúng.

“1. Tất cả quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận đều được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện.

2. Quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

 

Việc lồng ghép giới trong Bộ luật dân sự bên cạnh việc phát huy các dấu hiệu cơ bản của nền kinh tế thị trường (bình đẳng, tự quyết và tự chịu trách nhiệm) thì phải góp phần khắc phục được những “tác dụng phụ” những mặt trái của nền kinh tế thị trường, nhất những hệ quả của nó đến các nhóm yếu thế trong xã hội: người chưa thành niên; người cao tuổi; người do tình trạng thể chất dẫn đến mất hoặc có khó khăn trong nhận  thức, làm chủ hành vi; người do vị thế kinh tế, vị trí xã hội trở thành bên yếu thế trong quan hệ, nhất là trong các quan hệ nghĩa vụ, hợp đồng.

BLDS là sự tin cậy về pháp lý và về quyền con người để các bên trong quan hệ tư, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự (thẩm phán, trọng tài viên, luật sư…) giải thích cho những quan hệ “đặc thù” của lĩnh vực tư mà bản thân các luật riêng cũng chưa có quy định hoặc quy định không cụ thể, thậm chí ngay cả khi luật riêng có quy định cụ thể nhưng chưa bảo vệ tốt nhất quyền dân sự của các chủ thể.

“Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong những trường hợp luật định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

2. Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 11 và  Điều 12 của Bộ luật này, án lệ có thể được áp dụng để xem xét, giải quyết”.

 

 

BLDS cần được xây dựng để cho thẩm phán, luật sư và chính người dân có được một chỗ dựa pháp lý để giải thích cho những quan hệ có tính đặc thù về giới của lĩnh vực tư mà bản thân luật chưa có quy định hoặc quy định không rõ ràng, nhất là trong bối cảnh đáp ứng sự biến động của các dạng thức quan hệ tư và yêu cầu khách quan về thực hiện, bảo vệ quyền con người, Ví dụ:

- Thực hiện quyền dân sự liên quan đến bản dạng giới (xác định lại giới tính, chuyển giới, chung sống, kết hôn giữa những người cùng giới tính…). Thực tiễn xây dựng LHNGĐ sửa đổi vừa qua cho thấy, tính chất “nền” của BLDS để LHNGĐ có thể tự tin có những quy định cụ thể công nhận, bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế này;

- Vấn đề liên quan đến quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản của người khác: BLDS hiện hành còn thiếu vắng hoặc quy định còn mờ nhạt về căn cứ pháp lý để người phụ nữ có thể được hưởng hoa lợi, lợi tức, tài sản trên… Dự thảo Bộ luật đã có cách tiếp cận mới về vấn đề này, nhiều nội dung mang tính cải cách rõ nét như quy định vè quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, chiếm hữu….

2. Từ các cách tiếp cận cụ thể:

Quá trình soạn  thảo luật cho thấy, chủ đề được tranh luận nhiều nhất chính là cụ thể hóa quyền con người về dân sự, trong đó có vấn đề giới, tôi xin nêu khái quát ở 3 cách tiếp cận cụ thể:

Cách tiếp cận thứ nhất là, bảo đảm cho người dân có cơ hội tiếp cận thực chất hơn với các quyền công dân và quyền con người của mình. Bình đẳng là nguyên tắc “nền” có tính bản chất của quan hệ dân sự, nhưng để cụ thể hóa nó thì có  rất nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn cần phải giải mã.

Ví dụ: như thông lệ quốc tế, nhà làm luật cũng đã ghi nhập chế độ trợ giúp cho nhóm người yếu thế về năng lực hành vi (chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự). Tuy nhiên, cách quy định của Bộ luật hiện hành và nhiều ý kiến bình luận quy định của dự thảo Bộ luật dân sự về giám hộ đối với người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự còn khá đơn giản, một chiều, thay vì lấy người cần được trợ giúp làm “trung tâm” thì dường như “trung tâm” của vấn đề lại dành cho người đại diện của họ: người yếu thế về năng lực hành vi phải có người đại diện việc xác lập, thực hiện hành vi pháp lý theo quy định phải có sự đồng ý của người đại diện mà mà chưa có sự đồng ý của người đại diện thì hành vi pháp lý lập tức sẽ vô hiệu nếu người đại diện tuyên bố không đồng ý, bất kể trường hợp hành vi đó hoàn toàn đem lại lợi ích của người được đại diện.[3]

Trong khi đó, sự ràng buộc pháp lý đối với những hành vi pháp lý do người đại diện xác lập, thực hiện thay cho người yếu thế về năng lực hành vi còn thiếu sự chặt chẽ trong việc bảo đảm cao nhất lợi ích của người được đại diện. Quy định này dường như chưa đáp ứng được lợi ích của người được đại diện mà chỉ đáp ứng lợi ích của người đại diện (thực tiễn vừa qua cho thấy nhiều trường hợp người đại diện mà do tập quán chủ yếu là nam giới đã lợi dụng vai trò đại diện của mình để trục lợi từ các quy định này). Yêu cầu cần được đặt ra là sửa đổi khi quy định về trợ giúp cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì phải lấy lợi ích của người được đại diện làm tối thượng, trong trường hợp cần thiết chưa có sự đồng ý của người được đại diện nhưng hành vi đó đem lại lợi ích cho người được đại diện thì ta cũng công nhận cho họ chứ không phụ thuộc vào ý kiến của người đại diện.

Cách tiếp cận thứ hai là khi sửa Bộ luật dân sự chúng ta đang hướng tới thực hiện bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế trong xã hội. Khi rà soát lại, cho thấy trong xã hội có những nhóm người yếu thế mà pháp luật trước đây chưa tính tính đến hoặc chưa quy định hết được.

Ví dụ:

(1) Việt Nam đang ở giai đoạn bắt đầu già hóa dân số, tỷ lệ người cao tuổi ngày càng cao, từ đó đặt ra nhiều vấn đề xã hội, trong đó có vấn đề người già do tình trạng thể chất, tinh thần mà có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, một bộ phận người già hoặc do  “thất vọng” với con cái khi họ không được chăm sóc tử tế hoặc muốn được chủ động lựa chọn phương thức trợ giúp tốt nhất cho mình mà đã tự nguyện vào các cơ sở dưỡng lão để nhờ cậy sự  trợ giúp. Nhân viên trong những trung tâm này chăm sóc người già rất tử tế. Tuy nhiên, đã có những trường hợp xảy ra mâu thuẫn trong thực hiện quyền đại diện cho người già ở các cơ sở dưỡng lão này: nhân viên trung tâm hay là con, cháu của người già. Bộ luật dân sự có cách quy định nghiêng về quyền đại diện thuộc về con cháu hơn và như vậy quyền của người già về lựa chọn sự trợ giúp, người trợ giúp đã không có cơ sở để thực hiện. Thực tế này làm nảy sinh kiến nghị nên quy định trong Luật như thế nào đó để có những người không rơi vào trường hợp mất năng lực hành vi dân sự nhưng lại khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có thể được bảo vệ quyền lợi của mình một cách hợp lý?! [4]

(2) Bộ luật dân sự hiện hành ghi nhận quyền xác định giới tính, nhưng trên thực tế rất nhiều người chuyển giới (có thể tính đến con số nghìn) ở Việt Nam đang rơi vào tình trạng việc chuyển giới là không hợp lệ và chưa được công nhận quyền. Pháp luật bình đẳng giới của Việt Nam mới chỉ tiếp cận giới trên góc độ giới nam và giới nữ, nhưng thực tiễn xã hội đã đặt ra có nên nhìn nhận đơn giản vấn đề giới ở giới nam và nữ hay là theo bản dạng giới của họ. Thực tế, đối với cộng đồng LGBT, khi tiếp cận dưới dạng quyền dân sự, quyền công dân để bảo vệ quyền lợi cho họ là trên khía cạnh bản dạng giới chứ không phải là giới nam hay nữ. Trong trường hợp này nguyên tắc bình đẳng nam nữ với nhau rất là có vấn đề.[5]

(3) Bộ luật dân sự hiện hành mới chỉ tiếp cận quyền bí mật đời tư mà không nói gì đến quyền riêng tư trong khi quyền riêng tư rộng hơn rất nhiều, mới là quyền bị xâm phạm ảnh hưởng lâu dài nhất và mang tính chất lan truyền nhất….

Cách tiếp cận thứ ba là bảo đảm cơ chế pháp lý tốt hơn trong bảo vệ quyền của người dân, trong đó có vấn đề giới. Vấn đề này liên quan tới quan điểm, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của nhiều cơ quan, nhiều nhóm đối tượng liên quan. Ví dụ: vấn đề thời hiệu khởi kiện, chưa có quy định của luật và việc từ chối giải quyết vu, việc dân sự của Tòa án, ví dụ: (1)  Năm 1995, Tòa án nhân dân tối cao đã từng hướng dẫn không thụ lý giải quyết yêu cầu về ly thân do pháp luật chưa quy định về vấn đề này; (2) Công văn số 141/TANDTC-KHXX ngày 21 tháng 9 năm 2011 về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản; (3) quy định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế nhưng lại không quy định về hậu quả của việc hết thời hiệu khởi kiện; (4) thẩm quyền của Tòa án về giám hộ không được quy định dẫn tới Tòa án không thụ lý các tranh chấp về giám hộ….

3. Hai rào cản

* Từ vấn đề văn hóa, tập quán

Hiến pháp và Bộ luật dân sự quy định cụ thể về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về dân sự, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, con người có quyền kết hôn, ly hôn, v.v… nhưng thực tế trong xây dựng pháp luật, yếu tố văn hóa, tập quán cũng vẫn còn chi phối rất nặng trong việc thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản đã được ghi nhận này.

Ví dụ:

(1) Vấn đề thực thi quyền dân sự của người chưa thành niên, quyền nhân thân của cá nhân, quyền thừa kế…

(2) Xuất phát từ tập quán, đạo đức trong gia đình, Bộ luật hiện hành áp dụng chế độ giám hộ đương nhiên giữa những người thân thích với nhau, theo đó có những trường hợp theo luật định chồng đương nhiên là người giám hộ cho vợ trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự mà không cần phải đăng ký việc giám hộ tại cơ quan có thẩm quyền. Vừa qua, một vụ việc thực tế đã và đang còn nhiều ý kiến về hướng giải quyết tại thành phố HCM: người vợ bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người chồng theo luật đương nhiên là người giám hộ cho vợ mình, nhưng anh ta đã đối xử rất tệ bạc với vợ của mình. Bà mẹ của người vợ đã đi kiện khắp nơi đòi lại quyền giám hộ cho con gái, đưa đơn lên UBND thì UBND nói rằng việc giám hộ không có đăng ký, nên họ không có cơ sở để giải quyết khiếu kiện và hướng dẫn lên Tòa án. Bà mẹ kiện ra Tòa án thì tòa án cũng từ chối xử lý vì cho rằng, luật hiện hành không quy định thẩm quyền của tòa trong giải quyết về giám hộ. Nên vấn đề này bị ách tắc kéo dài trong nhiều năm nay.

* Từ cơ chế thực thi, bảo vệ quyền

Vai trò của Tòa án, thẩm phán, thủ tục tố tụng, v.v. còn có  nhiều bất cập dẫn tới cơ chế thực thi, bảo vệ quyền của người dân còn bất cập.  Ví dụ: (1) thẩm quyền giải thích pháp luật của thẩm phán và việc áp dụng án lệ chưa được ghi nhận đầy đủ. Do đó, thẩm phán còn lệ thuộc vào quy định của luật dẫn tới nguy cơ thẩm phán từ chối giải quyết vụ việc, dân sự vì lý không có quy định của luật; (2) pháp luật tố tụng chưa quy định cụ thể về thủ tục tố tụng đơn giản (thủ tục rút gọn), nhất là đối với những vụ việc đơn giản, cần thực hiện ngay để bảo vệ quyền công dân, quyền con người, như việc chỉ định người giám hộ, người đại diện mà không có thủ tục rút gọn thì có thể dẫn tới đứa trẻ cứ ở hết trung tâm từ thiện này đến trung tâm từ thiện kia cũng không có người đại diện nên khó thực hiện quyền của mình. Việc phải thể chế bằng pháp luật và việc thực hiện các quyền con người của người dân cần phải có sự đồng bộ thì người dân mới có thể có công cụ hữu hiệu để thực hiện được quyền của mình.

PHỤ LỤC 1

Trích dẫn một số Nghị quyết của Đảng có nội dung liên quan đến mục tiêu, quan điểm xây dựng dự án Bộ luật dân sự (sửa đổi)

1. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội - bổ sung phát triển năm 2011 xác định mục tiêu:

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Trên cơ sở đó phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối…; rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của người sở hữu, quyền và trách nhiệm của người được chủ sở hữu giao quản lý sử dụng các tài sản để kinh doanh; phân phối lợi nhuận tạo ra cho người chủ sở hữu, người được giao quản lý sử dụng và người lao động; bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người phát triển toàn diện…;

2. Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Hệ thống pháp luật Việt Nam định hướng đến năm 2020 xác định mục tiêu và định hướng như sau:

Mục tiêu

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Định hướng

- Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội.

- Từ nay đến năm 2010 và các năm tiếp theo, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào một số lĩnh vực pháp luật kinh tế trọng điểm, đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế.

- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh. Xác định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ sở hữu nhà nước và các chủ sở hữu khác, cơ chế bảo đảm quyền sở hữu và hạn chế quyền sở hữu... Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Tạo cơ sở pháp luật để công dân tích cực huy động mọi tiềm năng, nguồn lực và phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình và góp phần làm giàu cho đất nước. Tạo lập môi trường pháp lý cho cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, phù hợp với nguyên tắc của WTO và các cam kết quốc tế khác. Xây dựng một khung pháp luật chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xoá bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư; từng bước thống nhất pháp luật áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng theo hướng tôn trọng thoả thuận của các bên giao kết hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế. Đổi mới cơ bản pháp luật về phá sản.

- Xây dựng pháp luật cho việc tạo lập đồng bộ các thị trường. Tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất, từng bước mở rộng thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư ở Việt Nam.

- Hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động theo hướng đa dạng hoá các hình thức tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển chọn lao động, khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.

- Hoàn thiện pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hình thành và phát triển thị trường khoa học - công nghệ theo hướng mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

- Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng, tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động ngân hàng, khuyến khích cạnh tranh trong hoạt động tín dụng trên nguyên tắc an toàn hệ thống.

- Hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán.

- Hoàn thiện pháp luật về tài chính công, xác định rõ nguồn thu và cơ cấu chi của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, thống nhất chế độ chi tiêu; xác định cơ chế đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước. Công khai, minh bạch việc hình thành, quản lý và sử dụng các nguồn vốn, tài chính huy động từ dân cư, cộng đồng. Tiếp tục cải cách pháp luật về thuế theo hướng ổn định, đơn giản hơn, mức thuế phù hợp, có tính đến các định chế kinh tế quốc tế và khu vực cũng như các điều ước quốc tế khác có liên quan.

- Hình thành đồng bộ pháp luật về các chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật (xây dựng, điện lực, bưu chính - viễn thông, an ninh lương thực, thú y, thuỷ sản...) thể hiện các nguyên tắc, điều kiện, tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật liên quan đến phát triển và quản lý ngành.

- Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường theo nguyên tắc quản lý chặt chẽ, phát triển bền vững, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

- Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan, sai; khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước. Xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng.

3. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020 xác định phương hướng:

- Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

- Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn…

 

PHỤ LỤC 2

Một số công ước quốc tế liên quan dến tôn trọng, bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực dân sự mà Việt Nam là thành viên

 

 
 

 

 

 

1. Công ước về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 (Việt Nam gia nhập ngày 9/6/1981), trong đó quy định:

Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xoá bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi  hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc, đặc biệt trong việc hưởng những quyền sau đây:

- Quyền được đối xử bình đẳng trước các toà án cũng như trước các cơ quan tài phán khác;

- Quyền an ninh cá nhân và được nhà nước bảo vệ chống lại những hành vi bạo lực hoặc gây xâm hại đến thân thể do các nhân viên nhà nước gây ra hoặc do bất cứ cá nhân, nhóm người hoặc cơ quan nào gây ra;

- Những quyền về chính trị, đặc biệt là quyền về bầu cử - được đi bầu và được ứng cử - trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, quyền được tham gia vào chính phủ cũng như các hoạt động công cộng khác ở mọi cấp và được bình đẳng trong tiếp cận với các dịch vụ Công cộng;

- Các quyền dân sự khác, đặc biệt là:

+ Quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia;

+ Quyền được xuất cảnh khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả nước mình, và được quay trở lại nước mình;

+ Quyền có quốc tịch;

+ Quyền được kết hôn và được tự do lựa chọn người phối ngẫu;

+ Quyền sở hữu tài sản riêng cũng như sở hữu chung với những người khác;

+ Quyền thừa kế;

+ Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo;

+ Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí;

+ Quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình;

- Các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá, cụ thể là:

+ Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm và được có các điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi, được bảo vệ chống thất nghiệp, được trả lương bình đẳng cho những công việc tương đương, được trả công  công bằng và thích đáng;

+ Quyền được thành lập và tham gia các nghiệp đoàn;

+ Quyền có nhà ở;

+ Quyền được tiếp cận với y tế công cộng, chăm sóc sức khoẻ, an sinh xã hội và dịch vụ xã hội;

+ Quyền được giáo dục và đào tạo;

+ Quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động văn hoá.

- Quyền được tiếp cận với bất kỳ địa điểm và dịch vụ công cộng nào, ví dụ như các phương tiện giao thông vận tải, khách sạn, nhà hàng, các quán giải khát, nhà hát, công viên.

2. Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (Việt Nam ký tham gia vào ngày 27/11/1981, phê chuẩn vào tháng 2/1982), trong đó quy định:

- Đưa nguyên tắc bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp quốc gia hoặc các văn bản pháp luật thích hợp khác nếu vấn đề này chưa được đề cập tới và bảo đảm việc thực thi nguyên tắc này trong thực tế bằng pháp luật và các biện pháp thích hợp khác;

- Xây dựng các điều khoản pháp luật và thông qua các biện pháp thích hợp khác, kể cả việc trừng phạt trong những trường hợp cần thiết, nhằm ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ;

- Thiết lập cơ chế bảo vệ mang tính pháp lý các quyền của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới và thông qua các toà án quốc gia có thẩm quyền và các cơ quan nhà nước khác để bảo vệ phụ nữ một cách có hiệu quả chống lại mọi hành động phân biệt đối xử;

- Không tiến hành bất kỳ hành động hoặc hoạt động nào có tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ và bảo đảm rằng các cấp chính quyền và cơ quan nhà nước sẽ hành động phù hợp với nghĩa vụ này;

- Áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ do bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp nào tiến hành;

- Áp dụng mọi biện pháp thích hợp, kể cả những biện pháp pháp luật, nhằm sửa đổi hoặc xóa bỏ mọi điều khoản, quy định, tập quán và thực tiễn hiện đang tồn tại mang tính chất phân biệt đối xử với phụ nữ;

- Huỷ bỏ mọi điều khoản hình sự có phân biệt đối xử với phụ nữ;

3. Công ước quốc tề về các quyền dân sự chính trị năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982), trong đó quy định:

- Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác.

- Trong trường hợp quy định trên đây chưa được thể hiện bằng các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác, thì mỗi quốc gia thành viên Công ước cam kết sẽ tiến hành các bước cần thiết, phù hợp với trình tự pháp luật nước mình và những quy định của Công ước này, để ban hành pháp luật và những biện pháp cần thiết khác nhằm thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này.

- Các quốc gia thành viên Công ước cam kết:

+ Bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước này đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra;

+ Bảo đảm rằng bất kỳ người nào có yêu cầu về các biện pháp khắc phục sẽ được các cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp có thẩm quyền hoặc bất kỳ cơ quan nào khác có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định, xác định quyền lợi cho họ và sẽ mở rộng khả năng áp dụng các biện pháp khắc phục mang tính tư pháp;

+ Đảm bảo rằng các cơ quan có thẩm quyền sẽ thi hành các biện pháp khắc phục đã được đề ra.

- Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã quy định.

4. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982), trong đó quy định:

- Mỗi quốc gia thành viên Công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện pháp, một cách riêng rẽ và thông qua sự hợp tác giúp đỡ quốc tế, đặc biệt là các biện pháp kinh tế và kỹ thuật, sử dụng tới mức tối đa các tài nguyên sẵn có của mình, nhằm đạt được việc bảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền được thừa nhận trong Công ước này bằng mọi biện pháp thích hợp, đặc biệt kể cả việc thông qua những biện pháp lập pháp.

- Các quốc gia thành viên  cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị  khác.

- Các quốc gia đang phát triển có thể quyết định mức độ đảm bảo các quyền kinh tế mà đã được ghi nhận trong Công ước này cho những người không phải là công dân của họ, có xem xét thích đáng đến các quyền con người và nền kinh tế quốc dân của mình.

- Các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Công ước này quy định.

5. Công ước về quyền trẻ em (Việt Nam gia nhập tháng 1/1990, phê chuẩn ngày 20/2/1990), trong đó quy định:

- Trong mọi hoạt động liên quan tới trẻ em, dù được thực hiện bởi các cơ quan phúc lợi xã hội của Nhà nước hay tư nhân, bởi Tòa án, các nhà chức trách hành chính hay cơ quan pháp luật, thỡ lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu.

- Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm dành cho trẻ em sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết cho hạnh phúc của các em, có tính đến những quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, người giám hộ hợp pháp  hay những cá nhân khác có trách nhiệm pháp lý đối với trẻ em và nhằm mục đích đó, sẽ tiến hành mọi biện pháp lập pháp và hành pháp thích hợp.

- Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng những tổ chức, cơ quan và cơ sở chịu trách nhiệm chăm sóc hoặc bảo vệ trẻ em phải tuân thủ những tiêu chuẩn do các nhà chức trách có thẩm quyền quy định, đặc biệt trong các lĩnh vực an toàn, sức khỏe, về số lượng và tính phù hợp của đội ngũ nhân viên các cơ quan đó, cũng như về sự giám sát trình độ chuyên môn.

Ngoài ra, Việt Nam đã gia nhập một số công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) như Công ước số 5 về tuổi tối thiểu của trẻ em được tham gia lao động công nghiệp, Công ước số 6 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp, Công ước số 14 về quy định nghỉ hằng tuần cho lao động công nghiệp…

 

 


[1] Xem Phụ lục kèm theo.

[2] Phiên bản lấy ý kiến nhân dân. Hiện tại trên cơ sở ý kiến nhân dân thì dự kiến gần 300 Điều được chỉnh lý về nội dung hoặc kỹ thuật văn bản.

[3] Dự thảo Bộ luật quy định:

Người giám hộ của người chưa thành niên

Người giám hộ cho người chưa thành niên được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 59 của Bộ luật này do những người thân thích của người chưa thành niên thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì người giám hộ được cử trong số những người thân thích hoặc cá nhân, pháp nhân khác và ưu tiên cho người sống cùng hoặc đang trực tiếp chăm sóc người cần được giám hộ nếu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người được giám hộ.

Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Trường hợp không có người giám hộ theo lựa chọn thì người giám hộ do những người thân thích thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì người giám hộ được cử trong số những người thân thích hoặc cá nhân, pháp nhân khác và ưu tiên cho người sống cùng hoặc đang trực tiếp chăm sóc người cần được giám hộ nếu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người được giám hộ....

 

[4] Dự thảo Bộ luật quy định:

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

1. Người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của họ, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận người đó là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. 

2. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự theo quy định của luật hoặc theo quyết định của Tòa án phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

Quyền, nghĩa vụ của người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ được quy định tại các điều 65, 66 và 67 của Bộ luật này trong phạm vi đã được cơ quan có thẩm quyền cử giám hộ quyết định.

 

[5] Dự thảo Bộ luật quy định:

Quyền xác định lại giới tính

1. Cá nhân là người thành niên có quyền được xác định lại giới tính trong trường hợp luật quy định.

2. Người đại diện theo pháp luật chỉ có quyền yêu cầu xác định lại giới tính của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong các trường hợp luật định.

3. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của luật.

4. Phương án 1:

Nhà nước không thừa nhận việc chuyển giới.

Phương án 2:

Trong trường hợp đặc biệt, việc chuyển giới phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của luật.

 

 

Các bài viết khác