BÁO CÁO BAN ĐẦU VỀ DỰ THẢO LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH PHỦ (DỰ THẢO LẦN THỨ 14) VÀ DỰ THẢO LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CỦA VIỆT NAM

21/03/2015

BÁO CÁO BAN ĐẦU

VỀ DỰ THẢO LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH PHỦ (DỰ THẢO LẦN THỨ 14) VÀ DỰ THẢO LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

CỦA VIỆT NAM

 

Tiến sỹ. Penelopa Gjurchilova

Ho Chi Minh,

Viet Nam, Tháng 3/2015

 

MỤC LỤC

 

1.     Danh mục từ viết tắt

2.     Tóm tắt báo cáo

3.     Giới thiệu

4.     Một số điểm về chỉ tiêu (quota) cần cân nhắc như là biện pháp đặc biệt tạm thời

5.     Sự tham gia của phụ nữ trong Chính phủ và Quốc hội: Bối cảnh quốc tế

6.     Sự tham gia của phụ nữ trong Chính phủ và Quốc hội:Quan điểm của Việt Nam

7.     Bình luận và Khuyến nghị về Luật Tổ chức Chính phủ (dự thảo 14)

8.     Bình luận và Khuyến nghị về dự thảo Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân

9.     Kết luận

10.  Tài liệu tham khảo

 

1.       DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

 

2.      TÓM TẮT BÁO CÁO

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực tổ chức bộ máy chính phủ và quá trình bầu cử một cách công bằng, dân chủ và không phân biệt đối xử nhằm đảm bảo quyền về chính trị của cả phụ nữ và nam giới. Để đạt được các mục đích này, Luật Tổ chức Chính phủ (LOG) và Luật Bầu cử (Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân) cần phải rõ ràng, toàn diện, không phân biệt đối xử, khả thi và minh bạch để thu hút sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ vào quá trình bầu cử và quản lý.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Luật Tổ chức Chính phủ và Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân phù hợp với Hiến pháp mới năm 2013, bao gồm việc thành lập Hội đồng Bầu cử Quốc gia. Do đó, đây là cơ hội rất tốt để đảm bảo rằng nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử được đưa vào nội dung của các luật quan trọng này.

Báo cáo này dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết quốc tế của tác giả, các tài liệu trước đây và hiện tại, các báo cáo và nghiên cứu cũng như các tiêu chuẩn quốc tế và các thực hành tốt nhất tại các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới với mục đích chính là dựng lên bức tranh toàn cảnh của các quốc gia có liên quan đến hai hoạt động quan trọng về việc: tổ chức chính phủ và tổ chức bầu cử theo quan điểm về giới. Báo cáo này cũng được dựa trên các công cụ pháp lý quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức[1] phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Bản báo cáo cũng đề cập đến việc thực hiện rộng rãi các biện pháp đặc thù có tính chất tạm thời theo khuyến nghị của Ủy ban về địa vị phụ nữ (CSW) để đẩy nhanh tiến trình thực hiện công tác bình đẳng giới và một vài ví dụ về cách thức thực hiện tại nhiều nước khác nhau trên thế giới khi tổ chức bầu cử hoặc cơ cấu chính phủ. Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị và Công ước Công ước Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1982, 1 nguyên tắc tự do, dân chủ, bình đẳng và không phân biệt đối xử trên cơ sở các vấn đề về giới được quy định trong cả hai dự thảo luật.

Tuy nhiên, sau khi rà soát cả hai dự thảo luật thì thấy rằng các nguyên tắc bình đẳng giới và trách nhiệm giải trình trong việc bầu cử và tổ chức Chính phủ không được đảm bảo hoàn toàn trong các điều khoản của dự thảo liên quan đến sự tham gia của cả nam giới và phụ nữ trong các cơ quan bầu cử, chọn và đề cử ứng viên, đăng ký cử tri, sắp xếp danh sách ứng cử viên, bỏ phiếu, đếm lá phiếu và lập biểu, tổng kết bầu cử, công bố kết quả, xử lý vi phạm và trong việc đề cử, chọn ứng cử viên cho vị trí Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và Vụ trưởng của các cơ quan ngang Bộ cũng như các ứng cử viên cho vị trí Thứ trưởng, Vụ trưởng tại các Bộ và các cơ quan ngang Bộ. Ngoài ra, các nguyên tắc này cũng không được đảm bảo trong cơ quan tổ chức bầu cử , Hội đồng Bầu cử Quốc gia cũng như trong các Ủy ban/Ban/Cụm Bầu cử. Điều này cũng cần được xem xét khi sửa đổi Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân.

Để đảm bảo Luật tổ chức Chính phủ và Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân được thực hiện dân chủ, công bằng và không có phân biệt đối xử, nhiều khuyến nghị đã được đưa ra trong Báo cáo này nhằm giúp Việt Nam đạt được phạm vi quy chuẩn và pháp lý, đồng thời cũng đang trong giai đoạn chuyển từ lý thuyết sang thực tiễn và có thể thực hiện đầy đủ các kế hoạch đã nêu trong các văn bản pháp lý hiện hành được thông qua trong các năm gần đây - để đạt được ít nhất 35% sự tham gia của mỗi giới trong Quốc hội và Chính phủ cũng như trong các cơ quan trực thuộc trong giai đoạn 2015 - 2020 và các giai đoạn tiếp theo.

3.      GIỚI THIỆU

3.1.           Bối cảnh

Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc tăng cường sự tham gia của nữ giới, đẩy mạnh thực hiện bình đẳng giới và đã đạt được những kết quả quan trọng trong suốt các thập kỷ qua. Việt Nam luôn là một ví dụ về một đất nước có những phụ nữ kiên cường, mạnh mẽ đã sát cánh cùng nam giới trong giai đoạn cách mạng, xây dựng đất nước và trong thời kỳ đổi mới sau này. Ví dụ điển hình về cuộc đời, công việc và những thành công to lớn của Bà Nguyễn Thị Bình đã khẳng định rằng phụ nữ và nam giới có thể làm tốt khi được trao cơ hội và cống hiến với tầm nhìn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Trong suốt các năm qua, Việt Nam đã rất chú trọng thực hiện công tác bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và nhận thấy rằng việc phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một quốc gia đang phát triển phải được thực hiện chặt chẽ với việc đạt được các cơ hội bình đẳng cho cả hai giới nếu muốn đạt được mục tiêu chính là trở thành một quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa, ổn định và phát triển trong thế kỷ 21.

Điều này phù hợp với chiến dịch Phụ nữ Liên hợp quốc “Bình đẳng ngay hôm nay” đang diễn ra trên toàn cầu, đặc biệt được nhấn mạnh tại Phiên họp lần thứ 59 của Ủy ban về địa vị phụ nữ và Bắc Kinh +20 diễn ra tại New York vào tháng 3 năm 2015 nhằm mục đích tăng cường thực hiện các quy định của luật liên quan đến bình đẳng giới và đang đề nghị Chính phủ các nước bãi bỏ hoặc sửa đổi tất cả các luật về phân biệt đối xử trên cơ sở các vấn đề về giới.

Quyền của phụ nữ trong việc tham gia đời sống chính trị tại Việt Nam được khẳng định trong Hiến pháp (năm 2013), trong Luật bình đẳng giới (năm 2007), trong Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân (sửa đổi và bổ sung năm 2010). Sự tham gia ngày càng tăng và có ý nghĩa của phụ nữ trong các cơ quan bầu cử của Việt Nam cũng là một mục tiêu của Đảng Cộng sản, các cơ quan chính phủ và ban ngành các cấp. Theo Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 2007), Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (giai đoạn 2011 - 2020) hướng dẫn chi tiết việc thực hiện và giám sát việc áp dụng các văn bản pháp lý trên. Một trong những yêu cầu cụ thể là “xây dựng khung hướng dẫn nhằm khuyến khích sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ trong việc đưa ra quyết định và tăng tỷ lệ ứng cử viên là nữ giới được đề xuất vào Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp”.

Trong thực tế, mục tiêu trên tính đến nay vẫn chưa đạt được. Một số cuộc bầu cử quốc hội trước đây tại Việt Nam vào năm 2007 và 2011 cho thấy rằng các đại diện là nữ giới tại Quốc hội không đạt tỷ lệ 30% số phụ nữ được bầu chọn (do Mặt trận Tổ quốc và Hội đồng Bầu cử Trung ương lựa chọn), tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội năm 2007 là 28%, trong khi đó tỷ lệ này lại giảm xuống còn 24% vào năm 2011. Do đó, sự tham gia của nữ giới vẫn đang là mối quan tâm mà Đảng và Chính phủ đang từng bước thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn trong những năm gần đây.

 

Tỷ lệ phụ nữ giữ các vị trí chủ chốt trong các cơ quan bầu cử vẫn còn thấp. Chỉ có 3 trong số 36 tỉnh và thành phố có Chủ tịch Hội đồng Nhân dân là nữ và chỉ 1 trong số 63 tỉnh và thành phố có Chủ tịch Ủy ban Nhân dân là nữ, mặc dù trên thực tế không phải là thiếu phụ nữ có trình độ chuyên môn. Cũng theo dự thảo Luật tổ chức Chính phủ (viết tắt là DLOG) chỉ có 2 trong số 22 thành viên Chính phủ là phụ nữ, 2 trong số 16 thành viên của Bộ Chính trị là nữ giới và 14 trong số 175 thành viên của Trung ương Đảng là nữ.[2]

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới thiết lập các mục tiêu bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực,bao gồm cả tổ chức quốc hội và chính phủ.Đối với quốc hội, chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đặt mục tiêu có tối thiểu 35% phụ nữ tham gia vào bộ máy lập pháp khóa tới (2016-2020). Tới năm 2015, đạt mục tiêu 80% các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp có phụ nữ nằm trong bộ máy lãnh đạo chủ chốt. Tới năm 2015, tỷ lệ này là 70% và tới năm 2020 là 100% các tổ chức chính trị-xã hội và các cơ quan của Đảng và Nhà nước có tối thiểu 30% lực lượng phụ nữ tham gia vào cơ cấu lãnh đạo chủ chốt của tổ chức. Các mục tiêu này phù hợp với nội dung đánh giá của Cương lĩnh hành động Bắc Kinh 1995, trong đó 30% được gọi là “số lượng tới hạn”, được cho là cần thiết để phụ nữ tạo ra những tác động hữu hình vào cách thức và nội dung của những quyết sách chính trị[3]. Tuy nhiên, bây giờ đã là năm 2015 mà các mục tiêu đặt ra trên thực tế vẫn chưa đạt được. Do vậy, các cấp Chính phủ và Quốc hội cần hành động để cải thiện tình hình này, bao gồm cả các hoạt động lập pháp. 

3.2.           Các mục tiêu của báo cáo

-   Tiến hành phân tích giới trong Dự thảo luật tổ chức chính phủ (DLOG);

-   Tiến hành phân tích giới trong Dự thảo luật bầu cử của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (DLEDNA and PC);

-   Phân tích các thiếu sót và cố vấn cải thiện Dự thảo luật tổ chức chính phủ, và Dự thảo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân;

3.3.           Phương pháp báo cáo

Tác giả đã phân tích các tài liệu liên quan tới vấn đề bình đẳng giới và không phân biệt đối xử về giới trong lĩnh vực chính trị nói chung và quá trình bầu cử nói riêng, như các công ước về nhân quyền, tài liệu hướng dẫn tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động bầu cử của Liên Hợp Quốc, hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 và các qui định pháp lý về công tác bầu cử của Việt Nam và một số nước khác có tỷ lệ phụ nữ tham gia vào quốc hội cao hơn 30% cũng như các báo cáo và văn bản hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 13 tới bầu cử Ủy ban nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 ở Việt Nam. Tác giả cũng tiến hành phân tích các văn bản pháp lý hiện hành về vấn đề bình đẳng giới như Hiến pháp 2013, Luật bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ chính trị trung ương đảng công sản Việt Nam và tất cả các hiệp định pháp lý quốc tế liên quan mà Việt Nam là một thành viên tham gia để phục vụ cho nghiên cứu này, như Công ước Liên Hiệp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW).

3.4.            Cấu trúc báo cáo

Trước tiên, báo cáo được tổ chức để đưa ra một số nhận định về hệ thống hạn ngạch trên thế giới, và sau đó phân tích hoạt động tham gia của phụ nữ trong bộ máy chính phủ và quốc hội trên thế giới và ở Việt Nam. Cuối cùng, báo cáo phân tích hai dự thảo luật: Dự thảo Luật tổ chức Chính phủ (DLOG), và Dự thảo luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và đưa ra khuyến nghị để cải thiện cũng như hoạch định các bước cần thực hiện trong thời gian tới.

4.       MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ CHỈ TIÊU (QUOTA) CẦN CÂN NHẮC NHƯ BIỆN PHÁP ĐẶC BIỆT TẠM THỜI  

Phụ nữ tham gia chính trị và quá trình ra quyết định thường gặp phải những rào cản không chính thức như truyền thống, khuôn mẫu, quy tắc văn hoá, v.v. mặc dù họ chiếm phân nửa dân số. Quá trình thay đổi nhận thức, quan niệm, cơ hội và triển vọng cho phụ nữ trong lĩnh vực chính trị ở khắp mọi nơi trên thế giới là một quá trình dài. Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.

Những cấu trúc và cơ chế nhằm thực hiện bình đẳng giới đang trở nên ngày càng ít phù hợp hoặc thậm chí không phù hợp do những quan niệm đã ăn sâu bám rễ làm cho tình trạng bất bình đẳng kéo dài. Một câu hỏi được đặt ra trong suốt thời gian dài, đó là: Làm thế nào để đảm bảo rằng quyền của phụ nữ được chuyển hoá thành quyền trên thực tế, bao gồm quyền tiếp cận các nguồn lực và quyền ra quyết định? Một câu hỏi quan trọng khác là: Làm thế nào để nam giới và phụ nữ được nhìn nhận bình đẳng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và công việc và vượt qua được những định kiến giới?

Có một cách để làm được việc này là sử dụng một số biện pháp thúc đẩy sự thay đổi.  Cơ chế chỉ tiêu với tư cách là biện pháp đặc biệt tạm thời đóng vai trò cực kỳ quan trọng, từ thế hệ chỉ tiêu đầu tiên – trong bầu cử (lập hiến hoặc lập pháp) - nghĩa là chỉ tiêu trong các cơ quan dân cử, cho đến thế hệ chỉ tiêu thứ hai ở các cơ quan không do dân bầu (một lĩnh vực đang ngày càng thu hút sự quan tâm), đến một lĩnh vực mới xuất hiện gần đây về cái gọi là thế hệ thứ ba – hạn ngạch tổ chức/đoàn thể – hay là hạn ngạch trong các công ty và khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, vấn đề số lượng phụ nữ ở vị trí ra quyết định trong Chính phủ và các bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ còn thấp vẫn ít được quan tâm hoặc chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều quốc gia trên thế giới đã nỗ lực tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, và giờ đây là tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo của các tập đoàn. Tuy vậy, điều đáng ngạc nhiên là có quá ít nỗ lực để tăng cường số lượng phụ nữ có năng lực ở vị trí bộ trưởng hay người đứng đầu các cơ quan chính phủ và điều này vẫn phụ thuộc phần lớn vào người đứng đầu chính phủ hoặc liên minh cầm quyền. Thực trạng này đang dần thay đổi nhưng vẫn cần phải có rất nhiều sự vận động và tham gia ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế nhằm mang lại những chuyển biến thực sự trong khu vực rất quan trọng này.

Bên cạnh chỉ tiêu trong bầu cử như đã nói ở trên, còn có hai loại chỉ tiêu về giới khác được áp dụng trong chính trị: ghế dành riêng (trong cơ quan lập hiến và/hoặc lập pháp); và chỉ tiêu trong đảng chính trị (tự nguyện).

Trong vòng 10 năm qua, sự hiện diện của phụ nữ về mặt số lượng trong các vị trí quyền lực và ra quyết định đã nhận được sự quan tâm trên toàn thế giới, bao gồm cả các cơ quan của Liên Hợp quốc. Thực tế là với hành động trên toàn thế giới, đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực với số lượng phụ nữ ứng cử vào các vị trí ra quyết định ngày càng tăng, và điều này khiến người ta quan tâm hơn đến những cách thức và chiến lược nhằm biến sự hiện diện của phụ nữ thành hành động với kết quả và ảnh hưởng. Khi phụ nữ đã ở vị trí quyền lực, rất nhiều kỳ vọng được đặt lên vai họ, như để lại dấu ấn bằng các giải pháp chính sách hiệu quả để có thể làm thay đổi không gian chính trị, cùng chịu trách nhiệm với nam giới về bình đẳng giới và công bằng xã hội, và tạo điều kiện cho thêm nhiều phụ nữ khác tiếp bước theo họ. Chẳng hạn, Báo cáo mới đây của UN Women - “Theo đuổi Công lý” – chỉ ra rằng ở Rwanda, với 51% số nghị sĩ là nữ, nhiều cải cách luật pháp quan trọng về quyền của phụ nữ đã được thông qua.[4]

Chỉ tiêu nữ yêu cầu phụ nữ phải chiếm một số lượng hoặc tỷ lệ nhất định trong cơ cấu của một tập thể, dù cho đó là danh sách ứng cử viên, trong nghị viện, uỷ ban hay chính phủ. Cơ chế chỉ tiêu không đặt gánh nặng tuyển dụng lên vai phụ nữ mà lên những người kiểm soát quá trình tuyển dụng. Điểm cốt lõi của cơ chế này là tuyển phụ nữ vào các vị trí chính trị và đảm bảo rằng phụ nữ không chỉ là một nhóm thiểu số không có quyền ra quyết định thực sự trong đời sống chính trị. Quan niệm cũ về việc dành riêng ghế cho chỉ một hoặc một số rất ít phụ nữ được coi là đại diện cho một nhóm mơ hồ hàm ý toàn bộ “phụ nữ” là không còn đầy đủ và trong nhiều trường hợp còn bị coi là phân biệt đối xử và không phù hợp với thực tiễn pháp luật quốc tế. Ngày nay, cơ chế chỉ tiêu hướng tới mục tiêu đảm bảo rằng phụ nữ cấu thành thiểu số lớn chiếm 20%, 30%, 40% hoặc thậm chí đảm bảo tỷ lệ cân bằng giới thật sự 50-50%. Tại một số nước, cơ chế chỉ tiêu được áp dụng với tư cách là một biện pháp đặc biệt tạm thời, có nghĩa là đến khi những rào cản đối với phụ nữ khi tham gia chính trị được xoá bỏ, tuy nhiên, phần lớn các nước thực hiện cơ chế chỉ tiêu không giới hạn thời gian đối với việc áp dụng này.[5]

Phần lớn các chỉ tiêu nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ do vấn đề cần giải quyết thường là sự tham gia của phụ nữ còn thấp – đây là vấn đề rất quan trọng vì phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số ở mọi quốc gia. Chỉ tiêu 50-50% về bản chất là thiếu nhạy cảm giới và mục đích của nó là đảm bảo sự cân bằng giữa hai giới. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng đặt ra giới hạn vượt mức về sự tham gia của phụ nữ hoặc nam giới ở một thời điểm cụ thể nào đó, mà chỉ tiêu yêu cầu tối thiểu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ và nam giới tại một thời điểm nhất định đều không phụ thuộc và không thể phụ thuộc và kết quả thực tế của cuộc bầu cử hay việc bổ nhiệm.

Khái niệm “chỉ tiêu kép” đôi khi được sử dụng để nói về các cơ chế chỉ tiêu không chỉ yêu cầu phải đảm bảo một tỷ lệ nữ nhất định trong danh sách bầu cử mà còn ngăn tình trạng ứng cử viên nữ chỉ được xếp ở cuối danh sách với rất ít cơ hội trúng cử. Argentina và Bỉ là hai ví dụ về những nước mà luật pháp có quy định về tiêu chuẩn kép. “Cách xếp chỗ” hay quy tắc về thứ bậc ứng cử viên, nhất là ở các vị trí trên đầu danh sách, là những cách gọi khác để chỉ hiện tượng này. [6]

Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh là chương trình hành động tham vọng nhất về trao quyền cho phụ nữ và xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Kể từ năm 1995, nhiều chính phủ đã nỗ lực triển khai toàn bộ hoặc một phần Cương lĩnh này. So với Công ước CEDAW thì Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh không phải là một văn bản mang tính ràng buộc về pháp lý. Tuy vậy, có thể lập luận rằng 12 lĩnh vực quan tâm của Cương lĩnh cùng các khuyến nghị của nó có thể được dẫn chiếu đến nhiều điều khoản khác nhau của Công ước. Trên thực tế, Cương lĩnh thể hiện một cách chi tiết những bước cần tiến hành để thực hiện những nghĩa vụ pháp lý mà Công ước đề ra.

Theo đó, những mục tiêu và hành động được nêu trong lĩnh vực ‘G’ của Cương lĩnh – ‘phụ nữ tham gia quyền lực và quá trình ra quyết định’– tương ứng với các Điều 1, 2, 3, 4 (1), 5, 7, 8, 9, 10, 14 và 24 của Công ước CEDAW. Mặc dù không có tham chiếu cụ thể nào đến khái niệm cơ chế chỉ tiêu nhưng Cương lĩnh có đề ra các mục tiêu về “cân bằng giới” và việc đạt được “tỷ lệ ngang nhau” của cả hai giới trong các cơ quan chính phủ, cơ quan hành chính, và đề xuất việc áp dụng “biện pháp tích cực” [7] để thực hiện các mục tiêu này. [8] Trọng tâm là các chính phủ, đảng chính trị, tổ chức phi chính phủ và chính hệ thống Liên Hợp quốc.

Các Khuyến nghị chung của Uỷ ban CEDAW có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc thảo luận về cơ chế chỉ tiêu nhằm tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong đời sống công và đời sống chính trị bao gồm các Khuyến nghị chung số 5, số 8, số 23 và số 25. Các khuyến nghị chung được đưa ra bởi các cơ quan nhân quyền của Liên Hợp quốc là sự giải thích một điều ước nhằm giúp các nước thành viên trong việc triển khai nghĩa vụ của mình.[9] Các khuyến nghị chung số 5 và số 8 năm 1998 có ý nghĩa quan trọng vì công cụ biện pháp đặc biệt tạm thời, bao gồm cơ chế chỉ tiêu, được đưa ra ngay từ giai đoạn đầu trong quá trình hoạt động của Uỷ ban.[10]

Khuyến nghị chung số 23 năm 1996 đề cập cụ thể đến Điều 7 và Điều 8. Nó nhắc lại một số đoạn có liên quan của của Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh và chỉ ra những nguyên nhân mang tính lịch sử và cấu trúc của sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống công và trong lĩnh vực chính trị.[11]  Nó liệt kê một loạt những yêu cầu và nghĩa vụ mà các nước thành viên phải thực hiện. Bản Khuyến nghị chung này dành riêng một đoạn, mà nội dung của nó nên được hiểu trên cơ sở mối liên hệ với những cam kết này, để giải thích lý do cần có các biện pháp đặc biệt tạm thời và cách áp dụng chúng. Các yêu cầu và nghĩa vụ bao gồm: nỗ lực tuyển dụng đặc biệt, hỗ trợ tài chính cho phụ nữ và đào tạo ứng cử viên nữ; sửa đổi thủ tục bầu cử; các chiến dịch nhằm đảm bảo sự tham gia bình đẳng; lựa chọn phụ nữ để bổ nhiệm vào các vị trí công; và đặt ra các mục tiêu và chỉ tiêu về số lượng.

Một Khuyến nghị chung khác có liên quan nhiều hơn nữa đến việc áp dụng cơ chế chỉ tiêu là Khuyến nghị chung số 25 liên quan đến Điều 4 (1). Đây là một Điều khoản mang tính chất mô tả, theo đó các biện pháp đặc biệt tạm thời không mang tính phân biệt đối xử nếu việc áp dụng nó nhằm mục đích thực hiện bình đẳng trên thực tế giữa phụ nữ và nam giới. Khuyến nghị chung số 25 giải thích ý nghĩa của định nghĩa này trong bối cảnh tổng thể của CEDAW và cung cấp một phân tích sâu sắc về những lý giải cho việc áp dụng Điều 4 (1), cũng như việc áp dụng Điều này như thế nào và vào lúc nào.

Với những lưu ý trên, mặc dù cơ chế chỉ tiêu có thể không phổ biến ở một số nước trên thế giới nhưng có những bằng chứng cho thấy nó mang lại tác dụng. Báo cáo Phụ nữ thế giới năm 2010 của Liên Hợp quốc chỉ ra rằng, trên thế giới, “chỉ tiêu về giới… giúp tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong nghị viện”, và năm 2009, “phụ nữ giữ 21% số ghế trong nghị viện các nước có áp dụng cơ chế chỉ tiêu, so với tỷ lệ trung bình là 13% ở các nước không áp dụng (tr.116)

Thuỵ Điển là một ví dụ rất đáng xem xét. Sau khi hai đảng chính áp dụng cơ chế chỉ tiêu vào năm 1972, tỷ lệ nữ trong nghị viện đã tăng từ 14% lên 45%. Trong khi cần phải có sự giám sát để đảm bảo rằng các đảng sắp xếp ứng cử viên nữ ở những vị trí có thể thắng cử thì nhìn chung, cơ chế chỉ tiêu này đã thành công. Nó khuyến khích các đảng phái chính trị tích cực tuyển chọn phụ nữ và đảm bảo rằng một số lượng phụ nữ cần thiết được bầu vào nghị viện, làm thay đổi các quy tắc văn hoá và chính trị.

Chẳng hạn, ở các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đến đầu năm 2012, bình quân phụ nữ chỉ nắm giữ trên1/4 số ghế tại hạ viện hoặc nghị viện (ở những nước theo chế độ độc viện) – chỉ có 12 nước thành viên đạt hoặc vượt mức 30% mà Liên Hợp quốc và Liên minh Nghị viện Thế giới khuyến nghị. So với năm 2002, tỷ lệ này tăng thêm chút ít, ở mức 6%. Nhìn chung, sự tham gia của phụ nữ trong nghị viện các nước OECD đạt mức cao nhất ở các nước Bắc Âu gồm Thuỵ Điển, Phần Lan, Iceland và Na Uy, nơi phụ nữ nắm giữ 40% số ghế trong nghị viện hoặc nhiều hơn. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Chile và Hungary, phụ nữ nắm giữ dưới 25% số ghế.

Các bằng chứng cũng chỉ ra rằng những nước có chế độ bầu cử theo tỷ lệ thì sự tham gia của phụ nữ trong ngành lập pháp hơn thường cao hơn, có thể là do thực tiễn lựa chọn ứng cử viên của đảng đảm bảo sự cân bằng giới cao. Tại các nước OECD, 9 trong số 12 nước thành viên có tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong nghị viện đạt mức 30% có áp dụng các hình thức đại diện theo tỷ lệ trong các cuộc bầu cử lập pháp. Ngoài chế độ bầu cử, sự tham gia chính trị của phụ nữ còn có thể chịu ảnh hưởng của những rào cản văn hoá và tài chính cũng như những thách thức trong việc cân bằng đời sống chính trị và cuộc sống riêng. Để giải quyết vấn đề này, 9 nước thành viên OECD đã áp dụng cơ chế chỉ tiêu như là một công cụ để thúc đẩy bình đẳng giới trong nghị viện. Tuy nhiên, việc áp dụng các chỉ tiêu này khá đa dạng, từ chỉ tiêu áp dụng cho quá trình giới thiệu ứng cử viên (ví dụ như việc xếp tên của phụ nữ trong các danh sách của đảng hoặc để đề cử trong một cuộc bầu cử cấp quận) tới các chỉ tiêu dựa trên kết quả, trong đó một số lượng phụ nữ nhất định được sắp xếp vào những vị trí có nhiều khả năng thắng cử trong danh sách bầu cử và trúng cử vào nghị viện.

5.       SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CHÍNH PHỦ VÀ QUỐC HỘI: BỐI CẢNH QUỐC TẾ

5.1.           Sự tham gia của phụ nữ trong Chính phủ

Trao quyền chính trị cho phụ nữ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển con người và thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs). Trên thế giới, sự tham gia của phụ nữ trong nghị viện của các quốc gia vẫn ở mức thấp. Phụ nữ nắm giữ dưới 22% số ghế quốc hội và chỉ khoảng 17% số ghế bộ trưởng trong các chính phủ. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp quốc gia thấp nhất trong số các khu vực ngoài các nước A-rập (UNDP).

Tuy nhiên, tình hình đã bước đầu có chuyển biến, mặc dù còn chậm. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang tăng trưởng nhanh và ngày càng có nhiều người được thụ hưởng thành quả của sự phát triển này. Khoảng cách về giới trong việc đăng ký đi học đang được thu hẹp; ở nhiều nơi, số sinh viên đại học nữ cao hơn số sinh viên nam. Tuy nhiên, được giáo dục phù hợp có ý nghĩa gì nếu như nó không đi kèm với cơ hội phù hợp? Để đạt được bình đẳng về chính trị, phụ nữ phải nhận được sự hỗ trợ và cơ hội mà họ cần để phát huy hết năng lực của mình; họ phải được trao quyền để nhìn nhận bản thân ở vai trò lãnh đạo và họ cũng cần có cơ hội tham gia chính trị ở cấp độ địa phương, khu vực hay quốc gia. Các bằng chứng trên thế giới đã chứng tỏ rằng nếu như bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong quá trình ra quyết định thì nó sẽ tác động tiêu cực đến việc ra chính sách và đến tiến bộ xã hội.

Các rào cản xã hội, chính trị, kinh tế và luật pháp đã và đang cản trở sự tham gia của phụ nữ vào chính quyền ở mọi cấp. Để đảm bảo rằng bình đẳng giới là một thực tiễn chính trị (và là một thực tiễn sống - Michelle Bachelet), các chính phủ cần đưa ra chính sách và chương trình nhằm xây dựng quyền kinh tế của phụ nữ, đảm bảo tiếng nói chính trị lớn hơn và thúc đẩy quyền của phụ nữ theo pháp luật. Điều này cũng áp dụng đối với Việt Nam.

Báo cáo mới đây về Phát triển con người của UNDP ở khu vực châu Á Thái Bình Dương (2012), cũng như nhiều báo cáo, nghiên cứu và kinh nghiệm khác của Liên Hợp Quốc và ngoài Liên Hợp quốc, đã nhấn mạnh rằng việc áp dụng cơ chế chỉ tiêu giới có thể là một giải pháp chính trị khả thi. Chỉ tiêu giới đã được đưa vào hiến pháp của Afghanistan, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ, và trên toàn thế giới, nó đã chứng tỏ là chiến lược hiệu quả nhất để tăng cường số lượng phụ nữ trong nghị viện của các quốc gia. Như mọi mục tiêu khác, bình đẳng giới là một quá trình. Trong vài thập kỷ qua, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã đạt được những tiến bộ quan trọng nhờ sự phát triển hệ thống chính trị và thúc đẩy sự phát triển con người. Nhưng khu vực này vẫn còn có thể tiến xa hơn nữa nếu như có thêm nhiều phụ nữ tham gia không chỉ vào nghị viện mà cả chính phủ.[12]

Trong giới lãnh đạo chính trị ở các nước thành viên OECD, tỷ lệ nữ bộ trưởng đã tăng từ 21% năm 2005 lên 25% năm 2012. Số liệu từ năm 2012 cho thấy tỷ lệ nữ bộ trưởng dao động trong khoảng từ 50% ở các nước Na Uy, Thuỵ Điển, Phần Lan và Iceland đến dưới 10% ở Hungary, Estonia, Slovenia, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Phụ nữ thường đảm nhiệm chức bộ trưởng trong các lĩnh vực văn hoá và xã hội. Mặc dù quy trình bổ nhiệm bộ trưởng ở các nước có sự khác biệt, phụ thuộc vào hệ thống chính trị ở nước đó (bộ trưởng có thể do quốc hội bầu hoặc bổ nhiệm, hoặc do tổng thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của quốc hội hoặc không cần chấp thuận), nhưng phụ nữ không được đại diện một cách bình đẳng trong bất kỳ hệ thống nào.

 

 

 

 

Tỷ lệ nữ bộ trưởng, năm 2012 và 2005

Share of women ministers (2005 and 2012)

Nguồn: Liên minh Nghị viện Thế giới, Phụ nữ trong Chính trị, Posters, 2012 và 2005.

 

Trong suốt tiến trình cách mạng của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chỉ đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới[13]. Các chính sách, pháp luật của Việt Nam cũng đã thể hiện sự quan tâm đến bình đẳng giới: Điều 26 của Hiến pháp Việt Nam năm 2013[14], các chính sách mềm đòi hỏi quan tâm hơn nữa và tăng cường sự tham gia của phụ nữ ở vị trí lãnh đạo và quản lý nhằm giảm dần khoảng cách giới trong chính trị[15], các quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006,[16] cũng như các điều khoản của CEDAW. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy quyền của phụ nữ trong chính trị và quá trình ra quyết định là một lĩnh vực có tiến triển chậm trong thập kỷ vừa qua và những thành quả hạn chế có được từ trước đó đã phần nào mất đi. Do vậy, cần thiết phải đẩy nhanh quá trình đã được lập kế hoạch từ trước này bằng những biện pháp từng được áp dụng ở những nơi khác trên thế giới và mang lại kết quả (nhưng cũng cần tính đến bối cảnh và thực tiễn chính trị ở mỗi nước).

Do chưa có tiến triển đáng kể trong các cơ quan lập pháp ở cấp quốc gia và địa phương, cũng như trong chính phủ và lĩnh vực hành chính công nên việc thực thi chính sách và quyết định liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ trong quốc hội, chính phủ, các vị trí cao cấp trong khu vực công và chính quyền địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, một trong những lĩnh vực quan tâm chủ yếu của Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh (những nội dung này cần phải được quan tâm vì Việt Nam là nước thành viên công ước CEDAW), đó là:

“Trao quyền cho phụ nữ và sự tham gia đầy đủ của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội, bao gồm[17] tham gia vào quá trình ra quyết định và tiếp cận quyền lực, là yếu tố cơ bản để đạt được bình đẳng, phát triển và hoà bình” (Tuyên bố Bắc Kinh, đoạn 13, Liên Hợp quốc 1995).

Mặc dù xu thế dân chủ hoá đang lan rộng ở hầu hết các quốc gia nhưng sự tham gia của phụ nữ trong hầu hết các cấp độ của các đảng chính trị, khu vực công, đặc biệt là ở các bộ và các cơ quan hành pháp khác vẫn còn hạn chế; và mục tiêu mà Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên Hợp quốc đề ra là tới năm 2005 phụ nữ sẽ đảm nhiệm 30% số vị trí ra quyết định vẫn chưa thực hiện được. Phụ nữ cũng chưa tham gia nhiều trong khu vực tư nhân, và thậm chí là trong xã hội truyền thống, mặc dù thực tế này cũng đang thay đổi cùng với việc áp dụng cơ chế chỉ tiêu đối với phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo công ty ở nhiều nước trong những năm gần đây.

Một ví dụ gần đây tại Đức, quốc gia không có nữ giám đốc điều hành nào trong số 30 công ty hàng đầu, luật phê chuẩn ngày 6/3/2015 đã qui định các tập đoàn lớn của Đức cần đảm bảo số lượng nữ giới tối thiểu là 30% trong các Ban quản lý. Theo Bộ trưởng Bộ Gia đình Manuela Schwesig, nếu không có những cơ hội bình đẳng ở những công ty hàng đầu thì các lĩnh vực cũng sẽ như vậy. Mặc dù quốc gia này đã một nữ nguyên thủ, bà Angela Merkel, thì vẫn không có nữ giới điều hành trong số 30 tập đoàn hàng đầu[18]. Đức đang gia nhập nhóm các quốc gia châu Âu đã lên chỉ tiêu cho số lượng nữ giám đốc điều hành các tập đoàn, gồm Bỉ, Na-uy, Tây Ban Nha, Pháp, và một số nước khác. Tuy vậy, quyết định này được mong đợi có ảnh hưởng sâu rộng hơn tại nơi có các tập đoàn lớn nhất thế giới như Deutsche Bank, BASF, Merck và một số hãng sản xuất ô tô danh tiếng.[19] Quyết định này sẽ có hiệu lực năm tới và áp dụng cho hơn 100 công ty. Các công ty của Đức sẽ đặt ra các mục tiêu của họ và báo cáo lên chính phủ.

Một thực tế được nhấn mạnh trong nhiều sự kiện và nhiều nghiên cứu chính sách cũng như học thuật, đó là phụ nữ có ít khả năng tiếp cận quyền lực chính trị và quyền ra quyết định do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân tôn giáo, văn hoá, xã hội và kinh tế. Điều này cũng áp dụng cho tình hình ở Việt Nam nói chung.

Như đã nhấn mạnh ở trên, có nhiều yếu tố cản trở sự tham gia một cách có ý nghĩa của phụ nữ vào việc ra quyết định, vào sự phát triển của tổ chức cũng như các quá trình chính trị. Nhiều nỗ lực nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản trị đã mang lại một số kết quả nhưng chưa mang lại những thành tựu đáp ứng kỳ vọng của Bắc Kinh 1995. Cho tới năm 2014, tỷ lệ phụ nữ trong nghị viện các quốc gia trên toàn thế giới ở mức dưới 22% (tỷ lệ của cả hai viện là 21.9% - theo số liệu của IPU).

Phụ nữ cũng ít hiện diện trong đại diện các ban ngành của chính phủ và số nữ bộ trưởng phụ trách các ngành không phải là lĩnh vực truyền thống của phụ nữ trong chính phủ như an ninh, quốc phòng, tài chính, ngân sách và ngoại giao mới chỉ tăng lên trong vài năm gần đây. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở Việt Nam.

Đến tháng 9 năm 2015, trên thế giới có 9 nguyên thủ và 13 người đứng đầu chính phủ là nữ.[20] Và như đã đề cập ở trên, tỷ lệ nữ bộ trưởng bình quân trên thế giới chỉ là 18%. 20 năm sau Tuyên bố Bắc Kinh, đây thực sự là một con số rất thấp.

Rwanda có số lượng nữ nghị sĩ cao nhất trên toàn thế giới. Phụ nữ chiếm 63.8% số ghế trong hạ viện Rwanda.[21] Tại thời điểm tháng 12 năm 2014, trên thế giới có 37 nước có tỷ lệ nữ nghị sĩ trong nghị viện hoặc hạ viện thấp hơn 10%.[22]

Với tỷ lệ tăng như hiện nay thì cho đến năm 2047, ít nhất là các nước đang phát triển sẽ chưa thể đạt được “khoảng cân bằng” trong đó không giới nào nắm giữ nhiều hơn 60% số ghế quốc hội.[23] Tệ hơn nữa, như một số nhà phân tích đã chỉ ra, có thể phải mất đến 100 năm thì điều này mới diễn ra ở những nơi khác trên thế giới.

Tại thời điểm tháng 1 năm 2014, chỉ có 17% số bộ trưởng trong các chính phủ là nữ, phần lớn trong số họ phụ trách các bộ thuộc lĩnh vực xã hội như giáo dục và gia đình.[24]

Trong một số trường hợp đã được nghiên cứu, sự tham gia của phụ nữ trong chính quyền địa phương đã mang lại sự khác biệt quan trọng. Nghiên cứu về panchayats (hội đồng địa phương) ở Ấn Độ cho thấy ở những nơi mà phụ nữ đứng đầu hội đồng, số dự án nước sạch của điạ phương đó cao hơn 62% so với những nơi mà nam giới đứng đầu hội đồng. Ở Na Uy, các nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa sự tham gia của phụ nữ trong hội đồng thành phố với mật độ các cơ sở trông giữ trẻ em.[25]

Nghiên cứu trường hợp điển hình cho thấy trong chính phủ hiện thời của Anh, nam giới vượt trội so với phụ nữ, và cả hai đảng trong liên minh cầm quyền đều gặp những khó khăn mang tính lịch sử trong việc thu hút những phụ nữ có năng lực tham gia. Mức độ tham gia thấp của phụ nữ mang lại một số hệ quả không mong muốn, trong đó có việc phân nửa dân số gần như bị loại trừ khỏi quá trình ra quyết định chính sách. Gần đây, dường như ngày càng có nhiều tiếng nói ủng hộ lập luận rằng chỉ tiêu giới trong ngành hành pháp là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề này và mang lại một xã hội công bằng hơn.

Lập luận đó như sau: “Nhu cầu cấp thiết hiện nay là cải thiện chất lượng tham gia trong giới tinh hoa của nền chính trị Anh. Chúng ta cần nhiều phụ nữ hơn ở các vị trí lãnh đạo trong ngành hành pháp bởi vì đó là nơi mà họ sẽ có nguồn lực thiết yếu để mang lại khác biệt thật sự cho cuộc sống của phụ nữ. Tuy nhiên, chúng ta đang phạm sai lầm về cách thức thực hiện mục tiêu này. Cả nghiên cứu học thuật lẫn tranh luận chính sách đều có xu hướng tập trung vào việc cải thiện nguồn cung: lập luận được đưa ra là chỉ cần có nhiều nữ nghị sĩ hơn thì việc bổ nhiệm phụ nữ trong nội các và chính phủ cũng sẽ tăng lên. Nhưng tiến bộ trong việc tăng số nữ nghị sĩ diễn ra khá chậm, không tương xứng và chỉ mang tính tạm thời, nhất là ở những đảng chưa áp dụng cơ chế mạnh để đảm bảo phụ nữ được xếp vào những khu vực bầu cử có khả năng thắng cử cao. Với tốc độ tiến triển như hiện nay, chúng ta có thể sẽ phải đợi 100 năm nữa thì số nghị sĩ nữ và nam mới cân bằng. Ngay cả đến lúc đó thì cũng không có gì đảm bảo rằng các nữ nghị sĩ sẽ được bổ nhiệm vào vị trí hành pháp sau khi được bầu vào Nghị viện.[26]

Thay vào đó, có lẽ chúng ta nên hướng sự quan tâm vào nhu cầu. Việc bổ nhiệm bộ trưởng và các vị trí trong chính phủ thuộc quyền của Thủ tướng. Ông ta (đôi khi là bà), với sự cân nhắc và tham vấn chính trị trong một số trường hợp, được tự do quyết định ai sẽ tham gia vào đội ngũ của mình.

Cần lưu ý rằng việc phụ nữ không được bổ nhiệm vào các vị trí trong chính phủ hiếm khi là do thiếu những nữ chính trị gia tài năng. Bằng chứng trên toàn thế giới cho thấy nếu một Thủ tướng muốn bổ nhiệm một phụ nữ thì ông ta hoặc bà ta sẽ làm như vậy (trường hợp của Chính phủ Phần Lan).

Tuy nhiên, với lưu ý về tình hình trên thế giới liên quan đến ngành hành pháp cũng như nội dung Điều 7 (b) của Công ước CEDAW [27], thì có thể thấy rằng yêu cầu cấp thiết hiện nay đó là nhu cầu đối với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị của ngành hành pháp cần phải được chính thức hoá thông qua cơ chế chỉ tiêu trong càng nhiều trường hợp càng tốt. Khuyến nghị này cũng được áp dụng trong trường hợp của Anh.

Nhiều nước có những quy tắc bất thành văn để đảm bảo đạt được một tiêu chuẩn đại diện tối thiểu. Theo truyền thống, trong chính phủ Anh phải có một bộ trưởng người Scotland, một bộ trưởng xứ Wales, và các nhóm trong đảng có thể thoả thuận để đạt được sự cân bằng. Một số nước khác như Đức áp dụng các chỉ tiêu bất thành văn để đảm bảo sự hiện diện của các khu vực lớn và thậm chí là đại diện các nhóm tôn giáo. Trên thực tế, trước khi nhậm chức, Thủ tướng Anh Cameron đã đề cập đến ý tưởng về chỉ tiêu giới không chính thức đối với các vị trí lãnh đạo trong cơ quan hành pháp với mong muốn rằng cho tới trước khi kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội, một phần ba số ghế trong chính phủ của ông sẽ do phụ nữ đảm nhiệm. Mục tiêu này chưa được thực hiện, dù đã có một số lần thay đổi nhân sự và tỷ lệ nữ trong chính phủ vẫn chưa vượt mức 18%. Hy vọng là một nguyên tắc chính thức sẽ mang lại những thay đổi như mong muốn[28]. Hiện tại, trong 21 thành viên của nội các chính phủ Cameron (Phó Thủ tướng và các bộ trưởng) thì có 5 là nữ giới.

Chỉ tiêu giới trong cơ quan hành pháp sẽ mang lại cho những người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) một công cụ để xây dựng đội ngũ lãnh đạo chính trị phản ánh chính xác hơn đặc tính của những công dân mà họ đại diện. Đòi hỏi người đứng đầu chính phủ đảm bảo một nội các cân bằng về giới sẽ buộc họ nhìn ra bên ngoài mạng lưới gồm những gương mặt quen thuộc khi cân nhắc các ghế bộ trưởng. Chỉ tiêu giới chính thức trong cơ quan hành pháp sẽ đẩy nhanh tiến triển quá chậm chạp trong sự tham gia chính trị của phụ nữ ở cấp độ giới tinh hoa, nơi mà các chính trị gia có nguồn lực để tạo ra sự khác biệt. Cuối cùng, sự cân bằng giới lớn hơn trong nội các và các cơ quan chính phủ sẽ gia tăng cơ hội (mặc dù không đảm bảo) để phụ nữ có thể thụ hưởng nhiều hơn từ các chính sách của chính phủ[29].

Trong một diễn biến mới đây, theo bản khảo sát mà nhật báo Japan Times (Nhật báo Nhật bản) đăng tải vào tháng 11 năm 2014, khoảng một nửa trong số 47 quận ở Nhật Bản đã đề ra chỉ tiêu số lượng về việc đề bạt nhân viên nữ, và hầu hết trong số đó đều thấp hơn mục tiêu Thủ tướng Shinzo Abe đề ra là tăng tỷ lệ phụ nữ ở các vị trí lãnh đạo lên mức 30% vào năm 2020. Toàn bộ 47 quận trưởng đã tham gia cuộc khảo sát từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2014. 24 người cho biết chính quyền quận mình đã đề ra chỉ tiêu số lượng, trong khi ở Tokyo, quận trưởng Yoichi Masuzoe cho biết thủ đô sẽ sớm đặt mục tiêu 20%. 22 quận trưởng còn lại cho biết chính quyền địa phương vẫn đang xem xét vấn đề.

Đề bạt phụ nữ trong các công sở là một phần trong các chính sách cải cách kinh tế của Thủ tướng Abe. Ông cho biết mục tiêu của mình là tạo ra một xã hội trong đó “mọi phụ nữ đều toả sáng”. Đây là một câu nói rất hoa mỹ, tuy nhiên, khi cần có kết quả chứng minh thì Chính phủ đã không đáp ứng được.

Cho đến tháng 4 năm 2013, số liệu của Chính phủ Nhật cho thấy tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí quản lý dao động từ 15.2% ở Tokyo đến 2.1% ở Quận Yamaguchi, quê nhà của Thủ tướng Abe.[30] Hiện chỉ có 4 nữ bộ trưởng trong số 18 bộ trưởng, bao gồm cả phó thủ tướng, chiếm 23% nội các.

Luật pháp Phần Lan quy định rằng tỷ lệ mỗi giới trong thành phần của các cơ quan ra quyết định, bao gồm Chính phủ, phải đạt ít nhất 40%. Điều này giúp làm tăng tỷ lệ phụ nữ trong các cơ quan ra quyết định từ 25% năm 1980 lên 48% năm 1996 và hiện tại là xấp xỉ 62% (10 trong số 16 bộ trưởng là nữ) là quốc gia đứng đầu trên thế giới trên mặt trận bình đẳng giới.

Hiến pháp Pháp được sửa đổi năm 1999, quy định rằng “luật ủng hộ sự tiếp cận bình đẳng của phụ nữ và nam giới đối với các cơ quan bầu cử và các công việc liên quan đến bầu cử”. Năm 2000, luật được sửa đổi, theo đó số lượng ứng cử viên nam và nữ mà các đảng chính trị đề cử cho các cuộc bầu cử phải cân bằng (dao động trong khoảng 2%). Hiện tại, ngoài Thủ tướng Manuel Valls, trong số  33 thành viên nội các thì có 16 người là nữ (chiếm gần 50%), cho thấy một tiến triển thực sự khi các qui định luật pháp có hiệu lực.

Trong nhiều trường hợp, số lượng phụ nữ trong nội các phụ thuộc phần lớn vào thủ tướng hoặc cả các lãnh đạo khác nếu như đó là chính phủ liên hiệp, và con số này được thương lượng trong quá trình thành lập hoặc thay đổi nhân sự của nội các. Trường hợp gần đây ở Indonesia, Thủ tướng nước này đã bổ nhiệm 8 phụ nữ vào nội các mới, một điều chưa từng có tiền lệ ở Indonesia, nhưng điều này phù hợp với cương lĩnh tranh cử của ông, đó là phụ nữ cùng với nam giới sẽ đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Do đó, mặc dù chưa có nhiều tiến bộ trong việc áp dụng cơ chế chỉ tiêu (cứng) mang tính pháp lý trong các chính phủ khác nhau, và cơ chế chỉ tiêu mềm vẫn tồn tại trong chính phủ nhiều nước trên thế giới, chúng tôi vẫn khuyến khích các quốc gia – nếu có quyết tâm mang lại thay đổi thực chất và triển khai đầy đủ các điều khoản của Công ước CEDAW mà họ là thành viên, giống như Việt Nam - áp dụng cơ chế chỉ tiêu mang tính pháp lý trong quá trình thành lập Chính phủ để thúc đẩy bình đẳng giới và đem lại những kết quả thật sự cho người dân trong mọi lĩnh vực. Đặc biệt lưu ý tại Việt Nam, khi mà số lượng thành viên Chính phủ, bao gồm Thủ tướng và 5 Phó Thủ tướng, là 27 người nhưng chỉ có 2 người – tương đương 8% - là nữ, bao gồm Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Con số này không tương xứng với những nỗ lực ngày càng lớn mà Việt Nam đã tiến hành để tăng cường sự hiện diện và tham gia của phụ nữ ở mọi cấp độ của quá trình ra quyết định trong Chính phủ và Quốc hội. Nếu tỷ lệ lãnh đạo và đại biểu Quốc hội nữ ở Việt Nam tiếp tục xu hướng giảm như hiện nay thì Việt Nam có nguy cơ trì trệ về kinh tế-xã hội.[31] Tuy nhiên, với vị trí từng là nước đi đầu ở khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực bình đẳng giới, việc đẩy mạnh thực hiện sáng kiến này và đưa cơ chế chỉ tiêu vào Luật Tổ chức Chính phủ mới cũng như Luật Bầu cử mới có thể giúp đưa Việt Nam trở lại vị trí dẫn đầu ở khu vực Đông Nam Á nhanh hơn nhiều và với kết quả rõ nét hơn, và điều này sẽ dẫn đến những thay đổi trên thực tế trong thời gian ngắn hơn.

5.2.           Sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội

Luật bầu cử là một văn kiện pháp luật rất quan trong có thể tác động đến cơ hội tham gia của phụ nữ trong tất cả các mặt của tiến trình bầu cử. Việc sửa đổi hoặc xây dựng một Luật bầu cử  mới là cơ hội cho các quốc gia áp dụng nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử theo ICCPR và CEDAW không chỉ trong các điều luật chung mà còn cả các qui định pháp luật liên quan đến tiến trình bầu cử và hệ thống bầu cử. Đồng thời, các qui định pháp luật khác của hệ thống bầu cử liên quan tới việc phân loại các danh sách ứng viên, phương thức lựa chọn ứng viên, hạn mức được bầu,… cần được đưa vào tiêu chí đáp ứng và hỗ trợ về giới hướng tới mục tiêu bình đẳng giới.

Luật bầu cử cần phải rõ ràng, đầy đủ và minh bạch với mục tiêu là không có yếu tố nào trong tiến trình bầu cử gây hạn chế cho phụ nữ dù trực tiếp hay gián tiếp.

Như đã nhấn mạnh ở phần 4 trên đây, điều quan trọng là những gì hệ thống bầu cử tại một quốc gia tạo cơ hội cho phụ nữ được các đảng phái chính trị lựa chọn và đề cử làm ứng viên. Như đã đề cập trên đây, ngày càng nhiều phụ nữ được đề cử trong các chế độ bầu cử theo tỉ lệ (PRS) hơn là chế độ bầu cử theo số đông và chế độ bầu cử hỗn hợp.

Nếu phụ nữ được đặt ở vị trí cao hơn trong danh sách bầu cử của đảng, trong đó các ứng cử viên được sắp đặt theo sự phân định vị trí của chế độ bầu cử theo tỉ lệ (PRS), họ sẽ có cơ hội tốt hơn được bầu vào quốc hội.

Như đã nêu ở trên,chỉ tiêu về giới chứng minh rằng các biện pháp đặc biệt tạm thời (TSM) là công cụ các nước đang dùng để khuyến khích quá trình bình đẳng giới trong bầu cử. Ví dụ như trong hệ thống PRS tại Pháp, theo luật định, các đảng phái chính trị phải đề cử số ứng viên nam giới và phụ nữ ngang nhau ở tất cả các quận có đại diện của đảng nếu không muốn chịu nộp tiền phạt. Tại Bỉ cũng áp dụng PRS, Luật bầu cử cũng đưa ra hình thức phạt nếu các đảng bỏ qua các chỉ tiêu về giới.

Trong các trường hợp vi phạm như đã nêu trên, Ủy ban bầu cử sẽ lập tức hủy bỏ danh sách bầu cử của đảng.

Một ví dụ khác tại Argentina Bosnia-Herzegovia danh sách bầu cử phải có ít nhất 30% là phụ nữ hoặc phải là ít nhất 40% tại Costa Rica[32]. Tại Macedonia, các điều của Luật bầu cử và luật bầu cử địa phương trao quyền cho Ủy ban bầu cử của bang được từ chối danh sách bầu cử của các đảng chính trí nếu không có đủ ít nhất 30% của một giới và có thể hoán đổi trong danh sách. Tại Cuba, các ứng viên của nghị viện thành phố được dân địa phương đề cử trong các cuộc họp đề cử ứng viên. 50% ứng viên của tỉnh và quốc hội được nghị viên thành phố đề cử và 50% còn lại do Ủy  ban bầu cử quốc gia đề cử (bao gồm đại diện công đoàn, sinh viên, nông dân và phụ nữ) từ đại diện của các tổ chức và cơ quan xã hội. Đó là lý do giải thích việc đề cử được thực hiện từ tất cả các cấp, chủ yếu từ các tổ chức đại chúng, công đoàn, hội đồng nhân dân và liên đoàn sinh viên.[33]

Năm 2010, Kenia đã phê chuẩn Hiến pháp mới trong đó bảo đảm bình đẳng giới và chính sách tăng cường sự tham gia của nữ giới. Trước khi dự luật về đảng chính trị được phê chuẩn, Ủy ban bầu cử độc lập tạm quyền đã tiếp nhận ccacs khuyến nghị để dự luật có tính đáp ứng giới hơn. Khi dự luật được phê duyệt trở thành luật, pháp luật qui định rằng việc đăng ký các đảng chính trị sẽ tùy thuộc vào tối đa là 2/3 của mỗi giới trong các cơ quan cầm quyền. Một điều luật khác qui định các ghế trống trong nghị việc sẽ do người dân bầu theo giới tính.

Columbia cũng qui định chỉ tiêu 30% nữ ứng viên trong bầu cử toàn quốc. Để thu hút công chúng rộng rãi hơn, một chiến dịch lớn với thông điệp “Thiếu phụ nữ, Dân chủ là chưa đủ” đã được tiến hành.

Tỷ lệ 30% được coi là mốc quan trọng đối với sự tham gia của phụ nữ. Tại thời điểm tháng 1 năm 2014, 39 nghị viện hoặc hạ viện có tỷ lệ nữ chiếm 30%, bao gồm 11 nước ở châu Phi và 8 nước châu Mỹ La tinh.[34] Trong số 39 nước, 32 nước có áp dụng cơ chế chỉ tiêu theo hình thức nào đó nhằm mở đường cho phụ nữ tham gia về chính trị. Cụ thể, 13 nước áp dụng cơ chế ứng cử viên cơ quan lập pháp; 6 nước áp dụng cơ chế ghế dành riêng; tại 10 nước khác, các đảng áp dụng cơ chế chỉ tiêu tự nguyện.[35]

Ở những nước áp dụng chế độ bầu cử theo tỷ lệ, phụ nữ nắm giữ 25.2% số ghế. Trong khi đó ở các nước áp dụng chế độ bầu cử theo đa số thì tỷ lệ này là 19.6% và ở các nước có chế độ bầu cử hỗn hợp là 22.7%.[36]

Số lượng phụ nữ tham gia chính trị nhiều hơn không đồng nghĩa với chính sách tốt hơn, ví dụ như mức độ tham nhũng thấp hơn. Thay vào đó, một nền chính trị dân chủ và minh bạch hơn sẽ kéo theo mức độ tham nhũng thấp hơn, và hai điều này mang lại môi trường thuận lợi hơn cho phụ nữ tham gia.[37]

Một ví dụ tốt về so sánh giữ các nước thành viên trong vòng một thập kỷ với các nhóm khu vực khác là Tổ chức Hợp tác quốc tế và phát triển (OSCE) được mô tả số liệu dưới đây.

 

 

Tỷ lệ phụ nữ tham gia nghị viện và chỉ tiêu giới theo luật định (2012 và 2002):

Tại hạ viện hoặc nghị viện (các nước theo chế độ độc viện)

 

 

Share of women parliamentarians and legislated gender quotas (2012 and 2002)

 

Cột màu tím nhạt thể hiện các nước mà hạ viện hoặc nghị viện có chỉ tiêu về ứng cử viên tại thời điểm ngày 21 tháng 1 năm 2013.

Nguồn: Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), PARLINE (cơ sở dữ liệu); và IDEA, Quota Project  (cơ sở dữ liệu).

Cần lưu ý rằng có sự tiến bộ đáng kể ở các quốc gia thành viên OECD nhưng tiến bộ nhất ở các quốc gia thành viên đối với các chỉ tiêu về luật pháp và đảng tình nguyện.

Có nhiều ví dụ về chỉ tiêu giới trong lĩnh vực luật pháp là đã được thực hiện và thúc đẩy bình đẳng giới tại tất cả các quốc hội. Điều đáng ghi nhận là chỉ tiêu giới trong bầu cử đã được ghi vào hiến pháp và các văn bản pháp luật hoặc được các đảng chính chị tự nguyện thực hiện, và các đảng này cũng là nhân tốt chính để đảm bảo bình đẳng giới giữa nam giới và phụ nữ trong bầu cử và các cơ quan bầu cử. Tiếp sau đó, nếu các đảng này không đưa bình đẳng giới trong tiến trình bầu cử và đề cử, số lượng thành viên nữ trong các cơ quan bầu cử sẽ không thể tăng nhiều hơn trong thời gian ngắn và lâu dài.

Việc có chiến lược và sự hiện diện của các ứng cử viên nữ cũng rất quan trọng trong thời gian vận động tranh cử và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có, vì đó là một phần không thể thiếu trong quá trình bầu cử.

Các chiến dịch bầu cử thường có chi phí rất cao và kinh nghiệm cho thấy rằng phụ nữ khó có thể có thêm nguồn tài chính để vận động tranh cử so với nam giới. Nguồn tài chính tranh cử có thể từ tư nhân hoặc tài chính công. Một số nước ở Nam Mỹ và châu Âu có các quỹ của chính phủ sẵn có để tài trợ cho một chiến dịch bầu cử, tuy khá hạn chế. Ở nhiều quốc gia khác, chẳng hạn như Đức và Mỹ, chiến dịch này được tài trợ bằng cách sử dụng sự kết hợp của tài chính tư nhân và công cộng. Các loại và mục đích chi tiêu của chiến dịch bầu cử tùy theo từng khu vực. Ví dụ, ở Anh, quảng cáo trên truyền hình được cung cấp miễn phí cho các đảng vận động tranh cử và lại bị hạn chế theo pháp luật, trong khi tại Mỹ, quảng cáo trên truyền hình là một trong những chi phí tốn kém nhất trong ngân sách chiến dịch, đặc biệt là cho các chiến dịch của toàn tiểu bang. .[38]

Trong chiến dịch này, quan trọng đối với phụ nữ là các phương tiện truyền thông mô tả như thế nào về phụ nữ khi các phương tiện truyền thông là một trong những phương tiện tạo nên sự chú ý và lợi ích của cử tri và cuối cùng gây tác động đến cuộc bầu cử. Điều này tùy thuộc vào quốc gia đó có giải quyết những vấn đề này và đưa bình đẳng giới vào tất cả các phương tiện truyền thông hay không hoặc sẽ vẫn giữ nguyên trạng đối với phụ nữ hầu hết phải chịu đựng do sự rập khuôn và định kiến.

Luật Bầu cử của Thụy Điển không quy định bất kỳ quy định cụ thể nào về vận động tranh cử nhưng cấm quảng cáo thương mại hoặc các hoạt động khác nhằm gây ảnh hưởng hoặc cản trở cử tri trong việc đưa ra sự lựa chọn của họ. Vận động tranh cử bị cấm ở Cuba vì chỉ có một ứng cử viên cho mỗi ghế và các ứng cử viên phải có được sự ủng hộ của ít nhất 50% số cử tri mới được bầu. Luật Bầu cử của Bỉ cho phép các ứng cử viên để thực hiện tranh cử 40 ngày trước ngày bầu cử. .[39]

6.                 SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CHÍNH PHỦ VÀ QUỐC HỘI: QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM

6.1.           Tầm quan trọng của sự tham gia của phụ nữ trong Chính phủ và Quốc hội

Quyền ứng cử là quyền được bảo đảm theo hiến pháp và là một phần trong các quyền con người trên toàn thế giới.

Hiến pháp Việt Nam năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã nêu rõ: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1); “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7); “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền” (Điều 18). Thừa kế và phát huy Hiến pháp năm 1946, các bản Hiến pháp năm 1980, 1992 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống chính trị.

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định nam, nữ có cơ hội như nhau tham gia vào mọi mặt của quá trình bầu cử, đảm bảo quá trình bầu cử dân chủ, công bằng và không phân biệt đối xử.

Như Điều 6[40] và Điều 7[41] của Hiến pháp đã nêu, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện, và các cuộc bầu cử cần được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Quyền bầu cử và ứng cử cũng bao gồm quyền của cả phụ nữ và nam giới được là thành viên của các tổ chức phụ trách bầu cử, được có danh sách người ứng cử bình đẳng, công bằng và không phân biệt đối xử, và được tranh cử mà không bị gián đoạn. Để đảm bảo các quyền trên, luật bầu cử cần được thông qua với lưu ý giới trong toàn bộ quá trình với các quy định chính xác, rõ ràng, toàn diện và minh bạch.

Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân mới (Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND) phù hợp với Hiến pháp năm 2013, bao gồm việc thành lập Hội đồng Bầu cử quốc gia, do đó, cần đưa các nguyên tắc bình đẳng giới và không phân biệt đối xử vào mọi nội dung quan trọng của luật.

Các nguyên tắc bình đẳng giới và không phân biệt đối xử được thể hiện chi tiết trong các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là một quốc gia thành viên, như Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước về Xoá bỏ Mọi sự phân biệt đối xử với Phụ nữ (CEDAW)[42], và cũng được đề cập trong Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh.

Theo đó, các quy định về bình đẳng giới trong Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bình đẳng về mọi mặt trong quyền của mọi công dân được bầu cử và ứng cử, cũng như có cơ hội công bằng để tham gia vào công tác của Chính phủ.

Phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới, cần là một phần của công tác của Chính phủ, Quốc hội và Hội đồng nhân dân; và phụ nữ cần tham gia với tư cách đại diện cho một bộ phận của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Việc phụ nữ tham gia công tác của Quốc hội và các cơ quan dân cử khác với số lượng càng cao càng tốt là một phần trong các quyền con người phổ quát, đồng thời cũng là một phần trong các quyền con người của phụ nữ, bởi vì:

- Phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số;

- Điều này cho thấy Việt Nam tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế của mình;

- Phụ nữ có trải nghiệm khác với nam giới và nếu được ở vị trí có ảnh hưởng, họ có thể chia sẻ những trải nghiệm này và sử dụng chúng để mang lại lợi ích cho toàn dân, cũng như xây dựng các chính sách tốt hơn và toàn diện hơn;

- Điều này có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước và khu vực;

- Điều này đóng góp vào tăng trưởng kinh tế; và

- Đây là một việc công bằng và đúng đắn;

Theo một nghiên cứu do Đại học Quốc gia Singapore tiến hành, nếu cơ quan lập pháp có tỷ lệ phụ nữ cao hơn thì các chính sách và pháp luật về bảo vệ con người và môi trường sẽ dễ được thông qua hơn là trong cơ quan với tỷ lệ phụ nữ thấp.[43]

Việt Nam đã có những chuyển biến lớn về kinh tế-xã hội trong vài thập kỷ qua, và đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2011. Kể từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh chóng với những chuyển biến về kinh tế và cấu trúc giúp nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập với nề kinh tế toàn cầu. Tỷ lệ nghèo đã giảm một cách bền vững và Việt Nam đã sẵn sàng hoàn thành 6 trong số 8 Mục tiêu Thiên niên kỷ, bao gồm Mục tiêu số 3 về bình đẳng giới. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều việc cần làm trong lĩnh vực bình đẳng giới vì có nhiều dấu hiệu cho thấy trên cả nước, phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, và những thách thức này còn trở nên trầm trọng hơn do sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử và thiếu cơ hội về kinh tế.[44]

Do vậy, khuôn khổ pháp luật liên quan đến bình đẳng giới đã được hình thành và trong những năm qua, Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đẩy mạnh tiến bộ trong lĩnh vực này. Tuy vậy, rõ ràng là còn rất nhiều việc cần làm để có những chuyển biến rõ nét trên thực tế.

Luật Bình đẳng giới, chương III quy định các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới. Đặc biệt, Điều 19, 20 và 21 quy định các biện pháp, nguyên tắc chủ yếu và việc lồng ghép bình đẳng giới trong việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật.

Theo Khoản 1 Điều 20 của Luật, việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật (khoản 2).

Điều 21 của Luật Bình đẳng giới quy định việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nữ và nam; xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh.

Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, chuẩn bị báo cáo việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật BĐG.

Khi thẩm định văn bản quy phạm pháp, cơ quan thẩm định có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Do vậy, khi thẩm định dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ, theo quy định của Luật Bình đẳng giới (Khoản 3 Điều 21), nội dung thẩm định bao gồm

a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

c) Tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chỉnh trong dự án, dự thảo;

d) Việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo theo các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật Bình đẳng giới.

Khi thẩm định Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, cần lưu ý rằng trong các nhiệm kỳ gần đây, số ứng cử viên nữ và nữ đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân thấp hơn trước đây và chưa đạt chỉ tiêu đề ra trong các văn bản pháp luật.[45]

Từ các số liệu hiện có, có thể rút ra kết luận rằng sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp chưa được cải thiện và chưa đạt chỉ tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra đối với nhiệm kỳ hiện tại (30% hoặc cao hơn). Tính bình quân, số đại biểu nữ chỉ bằng 1/4 số đại biểu nam.

Tương tự như vậy, số lượng nữ trong các cơ quan phụ trách bầu cử cũng rất thấp. Phụ nữ ít tham gia trong Hội đồng Bầu cử, Uỷ ban Bầu cử và các cơ quan tổ chức hiệp thương và đây là nguyên nhân dẫn đến việc chưa đạt chỉ tiêu đề ra về ứng cử viên nữ và nữ ĐBQH và ĐBHĐND.

Do vậy, dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND cần đảm bảo việc áp dụng một số biện pháp bảo đảm bình đẳng giới quy định tại Luật Bình đẳng giới năm 2006, đó là các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định tại Điều 19, các nguyên tắc cơ bản của bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật (Điều 20) và lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 21).

Dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, mặc dù có các quy định trung tính về giới nhưng cũng quy định các biện pháp về vấn đề giới trong phạm vi điều chỉnh của Luật. Các biện pháp này còn chung chung, chưa cụ thể, chưa toàn diện và khó đạt yêu cầu về tăng tỷ lệ nữ ĐBQH và ĐBHĐND. Trong khi đó Luật Bình đẳng giới (Khoản 5 Điều 5) quy định “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này…”[46]

Nhằm mục đích đảm bảo sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội và HĐND các cấp, dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND quy định cơ chế đại diện “theo tỷ lệ” đối với nữ đại biểu (Khoản 4 Điều 7 Dự thảo Luật). Tuy nhiên, dự thảo chưa xác định tỷ lệ theo đại diện nghĩa là gì. Kinh nghiệm cho thấy khi một điều khoản như vậy được đưa vào luật, nó có thể được dùng để nói về một vấn đề rất chung chung và khó có khả năng thực hiện vì không có tiêu chuẩn nào để đánh giá. Như vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là: tỷ lệ của cái gì?

Hơn nữa, dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND không quy định về việc phụ nữ là thành viên và số lượng thành viên nữ trong Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các cơ quan phụ trách bầu cử ở địa phương. Những người làm việc trong các cơ quan trên (chủ yếu là nam giới) có ảnh hưởng quan trọng đến việc lựa chọn người ứng cử, nhất là việc giới thiệu người ứng cử, chuẩn bị, quyết định và phê chuẩn danh sách người ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND.

Liên quan đến vận động tranh cử, dự thảo Luật không quy định chính sách cụ thể đối với người ứng cử là nữ - những người vừa mang trách nhiệm xã hội, vừa phải hoàn thành vai trò của họ trong gia đình.

 

6.2.           Vấn đề giới trong dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND

a). Xác định vấn đề giới trong Dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND:

Trên cơ sở các quy định của Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành, qua nghiên cứu hồ sơ dự án Luật TCCP và dự án Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, chúng tôi thấy vấn đề giới chưa được lồng ghép đầy đủ trong cả hai dự thảo Luật. Ví dụ (1) Hồ sơ của dự án Luật TCCP và dự án Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND chưa có Báo cáo Lồng ghép giới trong quá trình xây dựng Luật theo quy định tại Điều 22 Luật Bình đẳng giới; (2) Tác động của các quy định pháp luật dưới góc nhìn giới trong dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND chưa được phân tích trong Báo cáo đánh giá tác động (RIA); và (3) vấn đề lồng ghép giới chưa được đưa vào Tờ trình về các dự án luật trên. Ngoài ra, chúng tôi cũng được biết chưa có đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới và đại diện Hội LHPNVN tham gia Ban soạn thảo.

b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự thảo luật và các văn bản khác:

Đề xác định vấn đề giới trong dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, cần thu thập, xử lý và phân tích thông tin liên quan đến giới trong phạm vi điều chỉnh của hai Luật trên, cũng như trong các văn bản pháp luật liên quan và quy định về vấn đề bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, trong các cuộc Bầu cử, cũng như tác động của mỗi luật đối với xã hội.

Khi hoàn thiện dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, điều quan trọng là phải lưu ý các thông tin và số liệu sau về bình đẳng giới liên quan đến:

Các chính sách, luật và quy định hiện hành về tăng tỷ lệ cán bộ nữ:

- Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

- Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Một trong những mục tiêu của Nghị quyết là đề ra các chỉ tiêu về cán bộ nữ cần đạt được trước năm 2020.[47]

- Chính phủ đã ban hành Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, trong đó mục tiêu thứ nhất là “Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị”.[48]

- Chương trình Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 - Dự án 3 về “nâng cao năng lực cho đội ngũ nữ đại biểu Quốc hội, nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nữ cán bộ quản lý, nữ lãnh đạo các cấp; nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, nữ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020, nữ cán bộ thuộc diện quy hoạch”.

            - Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, bao gồm: Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

Mặc dù đã có những văn bản trên và một số tiến bộ hạn chế về địa vị của phụ nữ nhưng sự tham gia và số lượng nữ bộ trưởng trong chính phủ hoặc lãnh đạo nữ các cấp trong các bộ và cơ quan ngang bộ vẫn còn thấp, bao gồm cả vị trí người đứng đầu của các cơ quan khác nhau. Cũng theo một Báo cáo của Bộ LĐTBXH (tháng 12/2014), tỷ lệ lãnh đạo nữ chỉ cao đối với chức danh cấp phó. Ví dụ:

a). Ở cấp bộ và cơ quan trung ương:

- Tỷ lệ nữ bộ trưởng là 9.1% (2 trong số 22 bộ trưởng); tỷ lệ thứ trưởng và tương đương là 10.8% (13 trong số 120);

- Tỷ lệ phụ nữ Vụ trưởng và tương đương là 10.87%; tỷ lệ nữ Phó Vụ trưởng và tương đương là 18.21%.

b). Ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương:

- 1.58% (1 trong số 63) Chủ tịch UBND là nữ

- 10.5% (23 trong số 219) Chủ tịch HĐND là nữ.

So với các nước khác trên thế giới, Việt Nam xếp thứ 83 về số nhà lập pháp, lãnh đạo cấp cao và quản lý nữ (cứ 78 lãnh đạo cấp cao nam thì có 22 lãnh đạo cấp cao nữ). Việt Nam xếp thứ 124 trong 129 nước về tỷ lệ nữ bộ trưởng và thứ trưởng, điều này cho thấy đây là vấn đề rất cấp bách ở mọi cấp của Chính phủ.[49]

Nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo tỷ lệ nữ thích đáng trong Chính phủ, một số nước quy định tỷ lệ nữ tối thiểu trong Chính phủ dưới hình thức chỉ tiêu (ví dụ 30,40,50% hoặc không có tỷ lệ trần). Tuy nhiên, như đã đề cập trong phần 5.1., có rất ít nước đã áp dụng hoặc có kế hoạch áp dụng cơ chế chỉ tiêu trong Luật Tổ chức Chính phủ.

Trên cơ sở đó, và áp dụng lăng kính giới vào dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, vấn đề giới được xác định như sau:

1. Trong dự thảo Luật TCCP, vấn đề giới bao gồm:

- Nhiệm vụ (trong số các nhiệm vụ) của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm bình đẳng giới trong Chính phủ và công tác của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ;

- Quy định số lượng hoặc tỷ lệ tối thiểu nữ và nam Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ (hiện tại tỷ lệ này rất thấp);

- Quy định số lượng hoặc tỷ lệ tối thiểu nữ và nam Thứ trưởng, Vụ trưởng trong các bộ và cơ quan ngang bộ (hiện tại tỷ lệ này còn thấp);

- Quy định hoạt động, chức năng và nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới, cũng như không ngừng cải thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

2. Trong dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, vấn đề giới bao gồm:

- Quy định số lượng hoặc tỷ lệ tối thiểu nữ và nam là thành viên của tất cả các cơ quan bầu cử - tỷ lệ khuyến nghị là tối thiểu 35% thuộc mỗi giới;

- Quy định tỷ lệ nữ tối thiểu trong các danh sách bầu cử cuối cùng ở tất cả các cấp phải đạt 45-50% để đảm bảo phụ nữ có cơ hội được bầu một cách công bằng, nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối thiểu 35%;

- Quy định về trách nhiệm giải trình đối với tất cả các cơ quan liên quan trong quá trình bầu cử;

- Bổ sung quy định về vận động bầu cử và người tự ứng cử;

- Bảo đảm phụ nữ được đánh giá theo các tiêu chuẩn về người ứng cử như đối với nam giới;

c) Tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chỉnh trong dự thảo và các văn bản khác

Các nguyên tắc và quy định của dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND là trung tính, không có quy định mang tính phân biệt đối xử nam nữ. Đồng thời, các dự thảo Luật cũng quy định một số nguyên tắc trực tiếp về bình đẳng nam nữ, quy định về trợ giúp phụ nữ, người mẹ và trẻ em phù hợp với các nguyên tắc bình cơ bản về bình đẳng giới.[50]

Dự thảo Luật TCCP cũng có các quy định trung tính về giới đảm bảo bình đẳng một cách gián tiếp, như Điều 6 (Khoản 6), Điều 7 (Khoản 5), Điều 14 (Khoản 4).

Tuy nhiên, các nguyên tắc và quy định này chưa đủ hoàn chỉnh và cụ thể để mang lại tiến bộ về vị trí của phụ nữ trong Chính phủ, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, cũng như để giải quyết các vấn đề giới nêu trên một cách hiệu quả.

d) Việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng dự thảo Luật và các văn bản khác theo Luật Bình đẳng giới:

Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND cần tính đến thực tiễn chính trị và thực tế là hệ thống pháp luật hiện hành đã có các quy định về bình đẳng giới (ví dụ như Nghị quyết số 11-NQ/TW năm 2007 của Bộ Chính trị, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới). Theo đó, một số vấn đề giới đã được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật khác nên không nhất thiết được quy định lại trong Luật TCCP và Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND.

Cần lưu ý rằng tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ không chỉ được điều chỉnh bởi Luật Tổ chức Chính phủ mà còn bởi các luật khác, trong đó vấn đề bình đẳng giới cũng cần được lồng ghép.

Hơn nữa, để lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong Luật TCCP, cần lưu ý rằng các quy định đó cũng phải được đưa vào các luật và văn bản dưới luật khác.

Cụ thể, cần giải quyết các vấn đề: bất bình đẳng giới trong độ tuổi nghỉ hưu, tạo môi trường thuận lợi hơn cho phụ nữ tham gia các khoá đào tạo; khuyến khích phụ nữ đảm nhiệm vị trí quản lý; tăng cường vai trò của nam giới trong việc chăm sóc con cái và làm một phần công việc nhà; nâng cao nhận thức về sự cần thiết tăng số lượng phụ nữ trong bộ máy hành chính công.

Các bằng chứng[51] cho thấy rằng đến nay, cơ chế bổ nhiệm ở Việt Nam được tiến hành trên cơ sở kết hợp các nguyên tắc như năng lực, phẩm chất, thâm niên (ví dụ, một người cần là Phó Vụ trưởng trước khi được bổ nhiệm Vụ trưởng). Do đó, việc tăng số lãnh đạo nữ trong các cơ quan Nhà nước phụ thuộc vào quy hoạch đủ dài hạn, mối quan tâm và năng lực của phụ nữ, số lượng phụ nữ đáp ứng các tiêu chuẩn, và việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong toàn dân, quan trọng nhất là trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao.

7.       BÌNH LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH PHỦ (DỰ THẢO LẦN THỨ 14) (DT LUẬT TCCP)

Qua phân tích Dự thảo lần thứ 14 của Luật Tổ chức Chính phủ, chúng tôi có một số bình luận và khuyến nghị sau đây để trình lên Chính phủ, Quốc hội và Uỷ ban Các vấn đề Xã hội của Quốc hội trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam cần thực hiện với tư cách là nước thành viên Công ước CEDAW và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia:

1.Để đảm bảo rằng Dự thảo Luật TCCP có các quy định khuyến khích bình đẳng giới (cũng như áp dụng cơ chế chỉ tiêu như là biện pháp tạm thời nhằm tăng số lượng phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo trong Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, Chính phủ có thể lựa chọn một trong hai phương án sau:

Phương án 1: tại Khoản 3, Điều 3 (Thành viên Chính phủ), đề nghị quy định tỷ lệ cụ thể phụ nữ và nam giới được xác định là thành viên chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Bên cạnh số lượng phụ nữ và nam giới được bổ nhiệm là thành viên Chính phủ (Điều 3), cũng cần xác định tỷ lệ cụ thể phụ nữ và nam giới là Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cũng như tỷ lệ cụ thể phụ nữ và nam giới là vụ trưởng và phó vụ trưởng của các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc bộ và cơ quan ngang bộ (Điều 26, 32, 37). Chúng tôi đề nghị tỷ lệ tối thiểu là 35% đối với mỗi giới (tỷ lệ nữ đảm nhiệm các vị trí trên hiện dao động ở mức từ 2% đến 19%).

Phương án 2: đề nghị sử dụng cụm từ “xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới”.

Tác giả thiên về Phương án 1, sau khi lưu ý thực tế hiện nay ở cấp Chính phủ ở Việt Nam và thực tế là thời gian và kinh nghiệm đã chứng minh là chuyển biến trong lĩnh vực bình đẳng giới trong các cơ quan chính phủ là rất chậm chạp. Do đó, để Việt Nam có thể đạt các mục tiêu đề ra trong Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới là trong giai đoạn 2015-2020, có 35% số vị trí ra quyết định ở các cấp do phụ nữ nắm giữ thì việc sử dụng cụm từ “tỷ lệ nữ phù hợp” trong dự thảo Luật TCCP sẽ không mang lại sự thay đổi nhanh chóng mà sẽ cần nhiều thời gian và nỗ lực hơn (nếu không đặt tỷ lệ cụ thể trong Luật Tổ chức Chính phủ) để thực hiện mục tiêu đó.

Trong phương án thứ hai, chúng tôi đề nghị sử dụng cụm từ “xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới” thay vì “tổi thiểu 35% thuộc mỗi giới” bởi vì trong trường hợp đó, ngay cả khi chưa đạt được tỷ lệ 35% , thì tỷ lệ 33-34% trong các cơ quan chính phủ vẫn phù hợp với quy định của Luật.

2.Tại Điều 4 của dự thảo Luật TCCP (Nguyên tắc tổ chức và Hoạt động của Chính phủ), liên quan đến nguyên tắc bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động của chính phủ, đề nghị sửa đổi, và/hoặc bổ sung tại Điều 4 như sau:

 “1. Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, đề cao tính dân chủ và pháp quyền, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới.

3.1.Tại Khoản 5 Điều 6 (Nhiệm vụ và Quyền hạn của Chính phủ trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và Pháp luật), đề nghị sửa đổi như sau:

“5. Quyết định các biện pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và nam giới, tạo…”

3.2.Cũng tại Điều 7, khoản 8 và 9 cần được viết rõ hơn để đảm bảo bình đẳng cho tất cả mọi người. Cách viết như trong dự thảo lần này có thể để ngỏ nhiều khả năng mà không phải tất cả đều có lợi cho bình đẳng giới

4.1.Điều 8 (Nhiệm vụ và Quyền hạn của Chính phủ trong Quản lý và Phát triển Kinh tế), tại Khoản 4, đề nghị bổ sung quy định cân nhắc kỹ các tác động về giới trong việc xây dựng dự toán ngân sách và câu cuối nên viết như sau: “…, tổ chức và điều hành thực hiện ngân sách nhà nước phù hợp với các cân nhắc giới và nghị quyết của Quốc hội.”

4.2.Cũng tại Điều 8, khoản 10 đề nghị viết như sau:

“Chỉ đạo, tổ chức và quản lý việc thực hiện công tác kiểm kê, thống kê số liệu có phân tách giới của Nhà nước.” (đây là vấn đề rất quan trọng và nhiều nước trên thế giới thiếu số liệu thống kê, do vậy việc xây dựng chính sách để giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân biệt đối xử trên cơ sở giới trong mọi lĩnh vực trở nên rất khó khăn và phức tạp).

5. Tại Điều 11 - Khoản 2 (Nhiệm vụ và Quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về Giáo dục và Đào tạo), đề nghị thêm vào phần cuối một dấu phẩy, và cụm từ một cách bình đẳng, cho cả hai giới

6.1. Điều 12 - Khoản 1 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch), đề nghị viết như sau: “Thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp văn hoá, văn học, nghệ thuật; quy định các biện pháp để bảo tồn, phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; khuyến khích phát triển các tài năng sáng tạo văn hoá, nghệ thuật, chống việc truyền bá tư tưởng và sản phẩm văn hoá độc hại ở cả hai giới; bài trừ mê tín, dị đoan trong toàn dân; xây dựng nếp sống văn minh ở cả hai giới và mọi nhóm trong xã hội.

6.2. Cũng tại Điều 12 - Khoản 2, đề nghị viết như sau: “2. Thống nhất quản lý và phát triển sự nghiệp thông tin - truyền thông, báo chí; thi hành các biện pháp để ngăn chặn có hiệu quả những hoạt động thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia và bình đẳng giới, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam”.

7.1. Khoản 3 Điều 14 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý thực hiện các chính sách xã hội) là một nội dung rất tốt khi quy định việc thực hiện chính sách bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; tuy nhiên, đề nghị sửa câu cuối như sau: “áp dụng các biện pháp phòng, chống mọi hành vi bạo lực, xúc phạm nhân phẩm đối với mọi người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (để phù hợp với khái niệm bình đẳng giới)

7.2. Khoản 4 Điều 14, khuyến nghị bổ sung từ “mọi” trước từ “để” và từ “công dân”…, để đảm bảo Điều này sẽ được áp dụng một cách bình đẳng cho cả nam và nữ.

8.Khoản 4 Điều 19 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về đối ngoại và hội nhập quốc tế), đề nghị câu đầu tiên nên viết như sau: “Tổ chức, trên cơ sở bình đẳng giới, và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan đại diện của Nhà nước tại nước ngoài và tại các tổ chức quốc tế…”, vì khoản này liên quan trực tiếp và phù hợp với Điều 7 và Điều 8 của Công ước CEDAW.

9.1. Khoản 2 Điều 20 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và chế độ công vụ, công chức), đề nghị câu đầu tiên nên viết như sau: “Quản lý, tổ chức, trên cơ sở bình đẳng giới, và chỉ đạo thống nhất hoạt động của hệ thống bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương;…”

9.2.Cũng tại Điều 20, Khoản 4 nên được sửa đổi và bổ sung như sau:

“4. Thống nhất quản lý biên chế công chức, biên chế sự nghiệp và quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc bình đẳng giới về lãnh đạo nữ trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương.”

10.1. Điều 26 (Nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ), tại Khoản 2 (c), đề nghị nêu rõ các vấn đề giới bởi vì Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp; chỉ đạo và thống nhất quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương;

10.2.Khoản 3 Điều 26, đề nghị thêm vào phần cuối một dấu phẩy, và sau đó là cụm từ… “phù hợp với Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW.”

10.3. Đặc biệt, chúng nghị bổ sung vào Khoản 4 Điều 26 như sau: “Trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước ngoài, với tỷ lệ tối thiểu là 35% thuộc mỗi giới”. Nội dung này phù hợp với Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW và Điều 8 của Công ước CEDAW, đồng thời lưu ý các thông tin trong Báo cáo Định kỳ lần thứ 7 và 8 của Việt nam về Công ước CEDAW được đệ trình lên Ủy ban về Địa vị của Phụ nữ

10.4. Tại Khoản 5 và 6 Điều 26, đặc biệt đề nghị áp dụng phương án 1 là thêm cụm từ ít nhất 35% thuộc mỗi giới trong tổng số Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (phù hợp với Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW và Điều 7 của Công ước CEDAW). Lý do giống như đối với Khuyến nghị số 1.

Phương án 2 là thêm cụm từ “tỷ lệ xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới”. Tuy nhiên, tác giả thiên về phương án 1 vì phương án 2 sẽ không giúp đạt các chỉ tiêu được nêu trong các văn bản pháp luật như Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng Giới, Luật Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW. Phương án này cũng không mở đường cho việc tăng nhanh số lượng phụ nữ đủ tiêu chuẩn trong các cơ quan chính phủ trong ngắn hạn và dài hạn, khi xét đến tầm quan trọng của Luật này. Hơn nữa, để đưa ra quy định như vậy thì cần xác định một tỷ lệ hợp lý.

10.5. Khoản 10 Điều 26, đề nghị thêm vào đoạn cuối cụm từ… toàn bộ các điều trên sẽ được tiến hành trên cơ sở lưu ý vấn đề bình đẳng giới

10.6.Đề nghị bổ sung Khoản 13 trong Điều 26, như sau:

“13. Đề xuất bổ nhiệm và trao quyền cho phụ nữ và nam giới giữ các chức vụ quy định tại các khoản 2.i, 3, 4 và 5 của Điều này dựa trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ tối thiểu 35% thuộc mỗi giới (hoặc phương án 2 là tỷ lệ xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới – phương án này không được ưu tiên bằng phương án 1).

11.Điều 29 (Phó Thủ tướng Chính phủ) của dự thảo không nói rõ số lượng phó thủ tướng (hiện có 5 Phó Thủ tướng và toàn bộ đều là nam); chúng tôi đề nghị quy định số lượng Phó Thủ tướng trong Luật, và quy định ít nhất 35% số Phó Thủ tướng được bổ nhiệm thuộc mỗi giới (hoặc phương án 2 là xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới – phương án này không được ưu tiên bằng phương án 1).

12.1. Khoản 3 Điều 32 (Nhiệm vụ và Quyền hạn của Bộ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan ngang bộ với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ), đề nghị viết như sau: “Đề nghị Thủ tướng Chính phủ việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phù hợp với các lưu ý bình đẳng giới và quy định hiện hành của pháp luật”.

12.2. Khoản 9 Điều 32, đề nghị sửa đổi và bổ sung vào câu cuối nội dung sau: “…tuyển dụng, sử dụng, quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý phù hợp với các lưu ý bình đẳng giới và quy định hiện hành của pháp luật

12.3. Đề nghị thêm một Khoản trong Điều 32, như sau:

“Đề xuất bổ nhiệm phụ nữ và nam giới giữ các chức vụ quy định tại các khoản 3 và 9 của Luật này dựa trên cơ sở đảm bảo tỷ lệ tối thiểu 35% thuộc mỗi giới.

Phương án 2: “tỷ lệ xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới” (phương án này không được ưu tiên bằng phương án 1).

13. Khoản 2 Điều 37 (Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan ngang bộ), đề nghị bổ sung các lưu ý về giới khi Chính phủ quyết định số lượng thứ trưởng và phó thủ trưởng cơ quan ngang bộ trong mỗi bộ và cơ quan ngang bộ, như sau:

“2. Số lượng Thứ trưởng ở Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tối đa là 6; số lượng Thứ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở mỗi bộ, cơ quan ngang bộ khác tối đa là 4, đảm bảo tổi thiểu 35% thuộc mỗi giới trong tổng số người giữ các chức vụ trên.”

Phương án thứ hai sử dụng cụm từ “tỷ lệ xấp xỉ 35% thuộc mỗi giới (phương án này không được ưu tiên bằng phương án 1).

14. Tại Khoản 4 Điều 46, (Thành phần mời tham dự phiên họp Chính phủ), bên cạnh Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, nên bổ sung Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (tên đầy đủ) để nhấn mạnh vai trò quan trọng của Hội trong sự nghiệp bình đẳng giới của đất nước.

Do dự thảo Luật TCCP không quy định cụ thể cơ cấu của mỗi bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, chúng tôi không khuyến nghị đưa quy định về bộ máy cơ quan bình đẳng giới vào dự thảo Luật. Với những nội dung sửa đổi đã đề xuất về việc đưa các nguyên tắc bình đẳng giới vào các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ tại Điều 4, Chính phủ sẽ có trách nhiệm lưu ý vấn đề giới (như quy định tại Điều 20) trước khi trình Luật lên Quốc hội xem xét, quyết định về cơ cấu và tổ chức của Chính phủ.[52]

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong chỉ đạo và thực hiện bình đẳng giới đã được quy định tại các Điều như Điều 13, 14 và 46 của dự thảo Luật. Với việc thực hiện các khuyến nghị trên, các cơ quan chức năng sẽ có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và tỷ lệ lãnh đạo nữ trong Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước.

8.      BÌNH LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ DỰ THẢO LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN (ĐBQH VÀ ĐBHĐND)

Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27 tháng 4 năm 2007 về công tác phụ nữ trong giai đoạn đẩy  mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước xác định: nhằm nâng cao nhận thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, cần tiến hành quy hoạch, đào tạo, đào tạo lại và bổ nhiệm cán bộ nữ để “đến năm 2020… tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp sẽ đạt từ 35% đến 40%.

Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cũng xác định mục tiêu tỷ lệ nữ ĐBQH và ĐBHĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đạt trên 35%.

Luật Bình đẳng giới năm 2006 cũng quy định nguyên tắc Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (Khoản 3 Điều 11), cũng như biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, đó là “Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới”.

Cùng với Hiến pháp và các luật liên quan, các quy định trên phù hợp với Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 của Liên Hợp quốc – thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Nhằm đạt được các mục tiêu trên và để đảm bảo công tác bình đẳng giới ở Việt Nam được triển khai có hiệu quả, cần phải áp dụng các biện pháp khác nhau trong dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, như sau:

- tăng số lượng ứng cử viên nữ đủ năng lực;

- các chính sách về đào tạo và khuyến khích ứng cử viên nữ để hỗ trợ họ trong toàn bộ quá trình bầu cử;

- tăng cường vận động cho phụ nữ và vận động bầu cử cho ứng cử viên nữ;

- nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải tăng tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

- tăng cường sự ủng hộ của nam giới với việc tăng tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Với các lưu ý trên, nếu đạt được tỷ lệ tối thiểu 35% ĐBQH và ĐBHĐND là nữ, và tỷ lệ tương tự trong các cơ quan bầu cử thì mục tiêu của các văn bản pháp luật nói trên sẽ được hoàn thành cho nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo.

Qua phân tích Dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, chúng tôi có một số bình luận và khuyến nghị sau đây gửi Chính phủ, Quốc hội và Uỷ ban Các vấn đề Xã hội của Quốc hội trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam cần thực hiện với tư cách là nước thành viên Công ước CEDAW và các điều ước quốc tế khác:

1.Tại điều 2 với tiêu đề “Tuổi ứng cử và tuổi bầu cử”, chúng tôi đề nghị bổ sung dẫn chiếu đến nguyên tắc đối xử bình đẳng, không loại trừ và không phân biệt đối xử.

Điểm này được lý giải như sau: Luật này cần phù hợp với Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng như Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và Chính trị và Công ước về Xoá bỏ Mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam đã phê chuẩn.

2.1.Tại Điều 4 về Trách nhiệm của các cơ quan, đoạn cuối của Khoản 2 nên bổ sung:… phù hợp với các lưu ý về bình đẳng giới và quy định hiện hành của pháp luật

2.2. Khoản 3 Điều 4, câu thứ 2 nên bổ sung: “dự kiến cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu quốc hội phù hợp với các lưu ý về bình đẳng giới, các biện pháp đặc biệt tạm thời đã được thông qua và quy định hiện hành của pháp luật”;

2.3.Khoản 3 Điều 4, câu thứ 3 (cũng là câu cuối cùng) nên bổ sung… dân chủ, đúng pháp luật, bình đẳng, an toàn và tiết kiệm.

2.4. Khoản 5 Điều 4 nên bổ sung như sau:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương một cách bình đẳng và không phân biệt đối xử, bao gồm việc sử dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời để lựa chọn, giới thiệu nam, nữ ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”.

Khuyến nghị trên được đưa ra trên cơ sở cân nhắc ảnh hưởng rất lớn của Mặt trận Tổ quốc trong việc lựa chọn đại biểu ở tất cả các cấp. Cần bổ sung thêm một câu sau câu vừa được đề xuất ở trên tại Khoản 5 Điều 4, như sau: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đảm bảo các quy định về bình đẳng giới trong Luật này được tuân thủ và áp dụng”

2.6. Dự thảo Luật chưa nhấn mạnh vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc cung cấp danh sách nữ ứng cử viên tiềm năng ra ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND. Do đó, chúng tôi khuyến nghị bổ sung một khoản vào Điều 4 về trách nhiệm của các cơ quan, như sau:

“Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, phối hợp với các cơ quan, tổ chức và đơn vị liên quan để xây dựng danh sách nữ ứng cử viên tiềm năng đáp ứng các tiêu chuẩn để trở thành ĐBQH và ĐBHĐND. Đồng thời, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giám sát việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng giới và quy định của pháp luật trong suốt quá trình bầu cử và liên tục tổ chức các chương trình tập huấn cho phụ nữ ra ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND”.

Khuyến nghị này được lý giải như sau: trên thực tế, Hội LHPN VN là tổ chức từ trung ương đến địa phương với sứ mệnh bảo vệ và thúc đẩy quyền của phụ nữ, bao gồm quyền bầu cử và ứng cử. Nghiên cứu của UNDP cho thấy Hội LHPN VN cấp trung ương và địa phương chưa có cơ chế để làm việc cùng các cơ quan, tổ chức và đơn vị liên quan trong việc xây dựng và đề xuất danh sách ứng cử viên nữ tiềm năng ra ứng cử ĐBQH và ĐBHĐND.

Hội LHPN VN thường giới thiệu những ứng cử viên nữ cụ thể dựa trên trách nhiệm và lòng nhiệt tình của họ thay vì dựa trên các tiêu chuẩn và cơ chế đã được thiết lập nhằm phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan khác có trách nhiệm trong quá trình bầu cử.

3. Sau khi tham khảo nhiều báo cáo và ý kiến về thời gian dành cho các hoạt động trước ngày bầu cử cho thấy phụ nữ cần nhiều thời gian hơn khi được lựa chọn ra ứng cử. Do vậy, chúng tôi đề nghị tại Điều 5 về Ngày Bầu cử, nên tăng số ngày từ khi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ấn định và tuyên bố ngày bầu cử từ cho đến ngày bầu cử chính thức từ 115 lên 125 ngày.

Ngoài Điều 5, chúng tôi cũng có khuyến nghị tương tự đối với Điều 7 và Điều 8.

Khi đó, phụ nữ sẽ có thêm thời gian chuẩn bị cho quá trình bầu cử vì trong một số trường hợp trước đây, có một số phụ nữ được đề nghị ra ứng cử chỉ vài ngày trước ngày bầu cử. Cần đảm bảo rằng tình trạng này không xảy ra trong bất kỳ cuộc bầu cử nào trong tương lai. Tất cả mọi người, bao gồm cả phụ nữ, cần có cơ hội bình đẳng trong việc ra ứng cử và được bầu, bao gồm cả thời gian thực tế của quá trình bầu cử và vận động bầu cử.

Như đã nêu trong Phân tích của UNDP[53], các ứng cử viên có cơ hội tiếp xúc cử tri để lắng nghe nhận xét trong quá trình lựa chọn và giới thiệu đại biểu cũng như trình bày chương trình hành động của họ trong quá trình tranh cử. Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng cử tri tham gia hoạt động này rất thấp. Chỉ có 340.696 cử tri tham gia 2.192 cuộc tiếp xúc cử tri dành cho ứng cử viên đại biểu Quốc hội khoá 13 và có 6.367.095 cử tri tham gia 121.084 cuộc tiếp xúc cử tri dành cho ứng cử viên đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016[54]. Điều này có nghĩa là hơn 80% số cử tri[55] (cả nam và nữ) không tham gia tiếp xúc cử tri. Nếu thời gian tranh cử dài hơn, toàn bộ cử tri sẽ có cơ hội tiếp xúc với ứng cử viên để có quyết định đúng đắn.

4.1. Liên quan Khoản 1 Điều 7. Dự kiến cơ cấu, thành phần và phân bổ đại biểu Quốc hội, chúng tôi cũng đưa ra khuyến nghị và lý giải tương tự như Điều 5 về việc tăng số ngày từ khi ấn định ngày bầu cử đến ngày bầu cử chính thức từ 105 lên 125 ngày.

4.2. Dự thảo hiện tại không quy định biện pháp đặc biệt tạm thời để đảm bảo rằng tỷ lệ phụ nữ dự kiến (theo Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết 11-NQ/TW) sẽ trở thành đại biểu quốc hội trong nhiệm kỳ tới:

Khoản 1 và Khoản 2 Điều 7 rất quan trọng vì biện pháp đặc biệt tạm thời dưới hình thức cơ chế chỉ tiêu nên được đưa vào đây.

Thông lệ quốc tế cho thấy sẽ tốt hơn và phù hợp hơn với nguyên tắc bình đẳng giới và không phân biệt đối xử nếu sử dụng văn phong trung tính về giới và do đó, chúng tôi đề nghị thay vì cách viết Khoản 1 và Khoản 4 như dự thảo hiện nay, nên thêm vào phần cuối của Khoản 1 cụm từ: “với mục tiêu tối thiểu 35% đại biểu quốc hội được bầu thuộc mỗi giới.”

Cũng cần bổ sung Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thành phần các cơ quan được tham vấn để xây dựng danh sách người ứng cử. Khoản 1 Điều 7 nên viết như sau:

1. Căn cứ vào số lượng đại biểu Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với Ban thường trực Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm nhất là 125 ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến về cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội với mục tiêu tối thiểu 35% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới; số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội.

Phương án 2 (không được ưu tiên bằng phương án 1): thay cho từ “tối thiểu” trong cụm từ “tối thiểu 35% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới”, có thể sử dụng từ “xấp xỉ”, vì trong trường hợp đó, ngay cả khi tỷ lệ 35% không đạt được thì tỷ lệ 33-34% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới cũng vẫn phù hợp với Luật

Có thể bổ sung một quy định riêng như sau: “mỗi danh sách người ứng cử đại biểu quốc hội bao gồm cả nam và nữ, với tỷ lệ bình đẳng”. Điều này có nghĩa là tỷ lệ đại diện của một trong hai giới sẽ đạt tối thiểu 45-50% tổng số người ứng cử trong danh sách. Điểm này cũng được nêu đậm trong Khuyến nghị số 13 và 14 dưới đây.

Theo đó, Khoản 4 Điều 7 nên viết như sau:

Số đại biểu Quốc hội là phụ nữ do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, với mục tiêu tối thiểu 35% số đại biểu được bầu là phụ nữ”.

Phương án 2 giống như  đối với Khoản 1.

Với biện pháp đặc biệt tạm thời có tính ràng buộc pháp lý này, Việt Nam có thể thực hiện được các mục tiêu nêu trong Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới bởi vì với xu hướng như hiện nay, nếu như không có quy định mang tính ràng buộc pháp lý thì kết quả cuộc bầu cử nhiệm kỳ tới 2016-2020 rất khó thay đổi theo chiều hướng mong muốn, như kết quả các cuộc bầu cử năm 2007 và 2011 đã cho thấy.

5. Giống như Điều 7, nội dung tương tự cũng nên được bổ sung trong Khoản 1 và Khoản 2 Điều 8 về bầu cử Hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân, như sau:

1. Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện) dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới, với mục tiêu tối thiểu 35% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới; đối với địa phương có nhiều dân tộc thiểu số cần bảo đảm số lượng thích đáng đại biểu là người dân tộc thiểu số;

2. Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khóm (sau đây gọi chung là tổ dân phố) trên địa bàn, với mục tiêu tối thiểu 35% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới; đối với địa phương có nhiều dân tộc thiểu số cần bảo đảm số lượng thích đáng đại biểu là người dân tộc thiểu số.

Phương án 2: giống như trên

6. Liên quan đến Chương III, Mục 1 về Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Điều 11 đến Điều 15,

Thứ nhất, dự thảo Luật chưa quy định biện pháp đặc biệt tạm thời dưới hình thức chỉ tiêu giới đối với thành viên Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các cơ quan bầu cử ở địa phương

Thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan bầu cử ở địa phương trong các kỳ bầu cử trước hầu hết là nam. Dự thảo Luật lần này không có bất kỳ quy định nào về cân bằng giới trong Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các cơ quan bầu cử ở địa phương. Đây là một thiếu sót quan trọng vì điều này không phù hợp với Luật Bình đẳng giới và Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới. Cần lưu ý giải quyết và thay đổi tình trạng này vì bảo đảm cân bằng giới trong số lượng thành viên của hội đồng bầu cử quốc gia và bảo đảm các ứng cử viên không vụ lợi cá nhân trong quá trình bầu cử là vấn đề tối quan trọng trong việc bảo đảm sự không phân biệt đối xử trong quá trình bầu cử.

Thứ hai, chúng tôi đề nghị lưu ý các cân nhắc giới như sau:

a). Các lưu ý giới cần được thể hiện rõ ràng trong toàn bộ các điều khoản trên (Điều 11-15), bao gồm quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Bầu cử Quốc gia, đặc biệt là liên quan đến vấn đề bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, cũng như về cơ cấu thành viên của Hội đồng Bầu cử Quốc gia cần phản ánh mục tiêu tối thiểu 35% số đại biểu được bầu thuộc mỗi giới.

b). Do Hội đồng bầu cử quốc gia là thể chế lập hiến có trách nhiệm tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội, chúng tôi đề nghị quy định Hội đồng Bầu cử quốc gia có trách nhiệm tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ của người tự ứng cử (bên cạnh Uỷ ban bầu cử ở địa phương của người tự ứng cử), cũng như tuyên truyền, hướng dẫn mọi công dân, đặc biệt là phụ nữ, về quá trình tự ứng cử.

Khuyến nghị này được đưa ra như là một biện pháp nhằm duy trì bức tranh tổng thể, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, không loại trừ, công bằng, tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo các quyền hiến định. Phù hợp với Luật Bình đẳng giới, trong số các nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia có thể bao gồm nhiệm vụ tích cực khuyến khích phụ nữ tự ứng cử và tuyên truyền, hướng dẫn mọi công dân về quá trình tự ứng cử.[56]

c). Chúng tôi cũng đề nghị bổ sung Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Điều này rất quan trọng vì Hội LHPNVN cần có vị trí hợp pháp trong Hội đồng bầu cử quốc gia để tăng cường vai trò của Hội trong vận động bình đẳng giới và không phân biệt đối xử, và điều này cũng phù hợp với Chỉ tiêu 2 trong Mục tiêu 1 của Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và điểm 3.5 của Nghị quyết số 11-NQ/TW.

d). Chúng tôi cũng đề nghị bổ sung nội dung quy định các vị trí lãnh đạo (Chủ tịch và Phó Chủ tịch) của Hội đồng bầu cử quốc gia do cả nam và nữ đảm nhiệm.

e) Đảm bảo rằng danh sách ứng cử viên bao gồm tối thiểu 45% đến 50% ứng cử viên thuộc mỗi giới (Điều 14, các khoản từ 1 đến 4), để đảm bảo rằng phụ nữ có cơ hội công bằng được bầu làm đại biểu quốc hội với tỷ lệ tối thiểu là 35% (hoặc xấp xỉ, theo phương án 2);

f) Tại Khoản 4 Điều 14, thêm vào phần cuối, sau dấu phẩy, cụm tử: “luôn bảo đảm tỷ lệ tối thiểu 45-40% người ứng cử thuộc mỗi giới trong danh sách bầu cử (để bảo đảm rằng phụ nữ có cơ hội công bằng được bầu làm đại biểu quốc hội với tỷ lệ tối thiểu là 35% (hoặc xấp xỉ, theo phương án 2) trong nhiệm kỳ tới của Quốc hội.

g) Điều 14 cũng cần bổ sung lưu ý về giới vì Điều này còn chung chung; cần quy định cụ thể hơn về cách thức mà Hội đồng Bầu cử quốc gia quản lý và phân bổ ngân sách cho bầu cử đại biểu quốc hội, vấn đề này cũng sẽ có tác động lớn đến số lượng phụ nữ có khả năng ứng cử vì lý do tài chính (Khoản 11 Điều 14).

7. Về Khoản 1 Điều 16 và mọi điều khoản khác liên quan, văn phong (trong bản dịch tiếng Anh mà tác giả có) cần thể hiện sự trung tính về giới và nên viết “The Chairman of the National Election Council is responsible to the National Assembly for his/her leadership,…..”.

Nguyên văn trong bản tiếng Việt “Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng bầu cử quốc gia.”.

8.Tại Chương III, Mục 2, Các tổ chức bầu cử ở địa phương: Tại Khoản 1 Điều 20 Khoản 1 Điều 21, chúng tôi cũng đề nghị tăng số ngày từ khi thông báo về việc tổ chức bầu cử đến ngày bầu cử từ 105 ngày lên 125 ngày, để tất cả các ứng cử viên, đặc biệt là phụ nữ, có thêm thời gian chuẩn bị và ứng cử.

9. Chúng tôi cũng đề nghị sửa Khoản 1 Điều 20: Uỷ ban bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh cần có thành viên là đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và tỷ lệ thành viên thuộc mỗi giới phải đảm bảo đạt tối thiểu 35%.

10. Khoản 1 Điều 20 đề nghị viết như sau: “…thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, có cân nhắc vấn đề bình đẳng giới và phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành, để thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt người gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, một số cơ quan, tổ chức hữu quan.

11. Tương tự như vậy với Khoản 1 Điều 22 về Ban Bầu cử và Khoản 1, Khoản 2 Điều 23 về Tổ Bầu cử ở những nơi có thể thành lập Tổ Bầu cử, trừ đơn vị vũ trang nhân dân.

12. Đề nghị bổ sung vào Điều 20, 21, 22 và 23 nội dung “Cơ cấu của các Uỷ ban/Ban/Tổ bầu cử phải có tỷ lệ tối thiểu thành viên thuộc mỗi giới là 35%”.

13. Liên quan đến Điều 40 “Ghi tên vào danh sách hiệp thương”, đề nghị cần đảm bảo sự tham gia bình đẳng của nam và nữ trong mọi quá trình và cơ quan bầu cử. Do đó, việc quản lý và tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri có thể được hưởng lợi từ việc tiến hành các bước đi tích cực để đảm bảo tỷ lệ đại diện tối thiểu 35% của cả nam và nữ.

Sự tham gia bình đẳng của cả nam và nữ tại hội nghị tiếp xúc cử tri sẽ giúp phản ánh tốt hơn các ý kiến, và phù hợp với nguyên tắc không loại trừ. Một điều khoản đảm bảo sự tham gia bình đẳng của nam và nữ là phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết số 11-NQ/TW và Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới, cả hai văn bản đều nhấn mạnh sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan chính quyền.

Khuyến nghị này liên quan đến tất cả các điều khoản về Hội nghị tiếp xúc cử tri và Hội nghị hiệp thương. Nếu khuyến nghị này được chấp thuận thì các Điều 40, 42, 43, 44, 48, 50, 51, 52, và 54 của Chương V sẽ cần xem xét lại.[57]

14. Bổ sung vào Khoản 2 Điều 46, Khoản 2 Điều 47 và Khoản 2 Điều 54 nội dung sau: Danh sách ứng cử viên cuối cùng phải đảm bảo tỷ lệ ứng cử viên thuộc mỗi giới đạt tối thiểu 45-50%. Phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới trong việc lựa chọn ứng cử viên cho mỗi danh sách. Việc sắp xếp thứ tự ứng cử viên trong danh sách, nếu có thể, là luân phiên”. [58]

Tiêu chuẩn xếp ứng cử viên nào, nam hay nữ, ở vị trí nào trong danh sách, phải thống nhất và được quy định cụ thể trong Luật.

Sự cần thiết của điều này được giải thích như sau: Cho đến nay, và theo quy định của luật hiện hành cũng như hướng dẫn tổ chức bầu cử, phần lớn các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử đại biểu quốc hội là do sự giới thiệu của lãnh đạo các cơ quan, tổ chức và đơn vị dưới sự hướng dẫn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tỷ lệ, thành phần và số lượng đại biểu, trên cơ sở hội nghị hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc tổ chức về tỷ lệ, thành phần và số lượng ứng cử viên được giới thiệu. Phần lớn các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân là do sự dới thiệu của lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cơ quan hành chính cấp dưới, thôn/xóm, theo ước tính của Thường trực Hội đồng nhân dân về tỷ lệ, thành phần và số đại biểu hội đồng nhân dân và trên cơ sở hội nghị hiệp thương do uỷ ban mặt trận tổ quốc địa phương tổ chức về tỷ lệ, thành phần và số lượng ứng cử viên.

Phân tích của UNDP[59] cho thấy, qua Báo cáo Kết quả Bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân của một số địa phương, có thể thấy tỷ lệ ứng cử viên ĐBQH và ĐBHĐND các cấp là phụ nữ đạt xấp xỉ 30%. Có mối tương quan trực tiếp giữa số lượng ứng cử viên nữ với số lượng đại biểu nữ được bầu.[60] Một số địa phương có tỷ lệ ứng cử viên nữ ứng cử ĐBHĐND ngang với tỷ lệ nam, như các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, phường Tân Thịnh (Thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình), dẫn đến kết quả là số ứng cử viên nữ trúng cử cao hơn[61].

Lưu ý đến những khác biệt trong cách thức giới thiệu ứng cử viên của các tỉnh, cần áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời dưới hình thức chỉ tiêu nhằm “tạo sân chơi công bằng” cho tất cả các ứng cử viên, cả nam và nữ, có cơ hội được bầu một cách công bằng. Nếu nguyên tắc bình đẳng giới không được tôn trọng ở bước lựa chọn và giới thiệu ứng cử viên thì tỷ lệ 35% đại biểu nữ trúng cử sẽ khó thực hiện được.

Do đó, điều quan trọng là đảm bảo tỷ lệ bình đẳng giữa ứng cử viên nam và nữ được giới thiệu và tự ứng cử để đảm bảo tỷ lệ đại biểu nữ trúng cử cao hơn.

Một vấn đề quan trọng khác là việc sắp xếp thứ tự trong danh sách bầu cử.

Ví dụ, trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa 13[62] và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016[63], việc bố trí danh sách ứng cử viên không đồng đều cho thấy điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc phụ nữ có được bầu hay không vì các điều khoản liên quan đến danh sách ứng cử viên trong luật hiện hành không quy định cụ thể cách sắp xếp ứng cử viên trong danh sách bầu cử. Do đó, việc sắp xếp danh sách ứng cử viên của các cơ quan phụ trách bầu cử địa phương có sự khác biệt.[64] Hệ quả là nhiều phụ nữ không trúng cử do bị sắp xếp ở vị trí không thuận lợi trong danh sách.

Do đó, chúng tôi đề nghị nên sắp xếp tên các ứng cử viên trong danh sách theo thứ tự luân phiên giữa hai giới (nữ-nam-nữ-nam, v.v), nếu có thể, theo các tiêu chuẩn thống nhất được quy định trong Luật để đảm bảo tỷ lệ nữ đại biểu trúng cử đạt 35%.[65]

15.Chúng tôi đề nghị bổ sung vào Khoản 2 Điều 48 về Hội nghị Hiệp thương lần thứ nhất như sau:

“2. Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp tỉnh, cấp huyện thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước cùng cấp và các đơn vị hành chính cấp dưới phù hợp với các lưu ý giới và quy định của luật hiện hành liên quan đến giới”.

16. Đề nghị sửa Điều 55 và 56 về Danh sách Người ứng cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân để tăng cường việc thực hiện chỉ tiêu giới và bổ sung quy định về viết tên người ứng cử trên phiếu bầu. Theo Khuyến nghị số 14, tên ứng cử viên có thể được sắp xếp luân phiên trên mỗi phiếu.

Hoặc phương án khác, theo khuyến nghị của LHQ, đó là tên ứng cử viên thuộc giới có số lượng ứng cử viên ít hơn được sắp xếp trên danh sách theo thứ tự sau:

- Ít nhất 1 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 2 ứng cử viên đầu tiên;

- 2 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 5 ứng cử viên đầu tiên, và

- 3 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 8 ứng cử viên đầu tiên, v.v.

Danh sách ứng cử viên nữ và danh sách ứng cử viên nam được sắp xếp theo thứ tự abc.[66]

Việc sắp xếp tên ứng cử viên nữ và nam trên phiếu bầu có thể ảnh hưởng đến người được bầu. Kết hợp hai tiêu chuẩn (luân phiên nam nữ và thứ tự abc) sẽ đảm bảo phân bố đều tên ứng cử viên trên danh sách. Quy định này nhấn mạnh các mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW, phù hợp với Công ước CEDAW, các Khuyến nghị chung của CEDAW và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh. Nếu khuyến nghị này được chấp thuận thì Điều 56 cũng cần được sử đổi để phù hợp với điểm trên.

17. Điều 60 về Những trường hợp không được tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử: đề nghị sửa điều này, quy định thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử các cấp, không được đồng thời là người ứng cử tại bất kỳ thời điểm nào trong cùng kỳ bầu cử. Hoặc, ít nhất là thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử không được đồng thời là ứng cử viên trong cùng khu vực bầu cử.

Khuyến nghị này được đưa ra vì khuôn khổ pháp lý cần yêu cầu các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập và vận hành trên cơ sở đảm bảo tính độc lập và trung lập. Các tổ chức bầu cử sẽ là tổ chức đáng tin cậy và trung lập cho người ứng cử và quá trình bầu cử. Nếu thành viên các tổ chức này đồng thời là người ứng cử thì sẽ gây ra xung đột lợi ích trực tiếp và sẽ làm mất uy tín của tổ chức phụ trách bầu cử cũng như quá trình bầu cử.[67]

18. Điều 83 (Khoản 2) và Điều 85 (Khoản 2) về việc tổng kết cuộc bầu cử: Biên bản kết quả bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND cấp tỉnh, thành phố, Biên bản tổng kết cuộc bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND cần có các thông tin theo giới, nên viết như sau:

Đối với Điều 83 (Khoản 2): Biên bản kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội có những nội dung sau đây:

a) Số lượng đơn vị bầu cử;

b) Số người ứng cử; phân tách theo giới;

c) Tổng số cử tri của địa phương phân tách theo giới;

d) Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu; tỷ lệ so với tổng số cử tri;

đ) Số phiếu hợp lệ;

e) Số phiếu không hợp lệ;

g) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

h) Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử phân tách theo giới;

i) Những khiếu nại do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết;

Đối với Điều 84 (Khoản 2):

“2. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có những nội dung sau đây:

a) Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu phân tách theo giới;

b) Tổng số người ứng cử phân tách theo giới;

c) Tổng số cử tri phân tách theo giới;

d) Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu; tỷ lệ so với tổng số cử tri;

đ) Số phiếu hợp lệ;

e) Số phiếu không hợp lệ;

g) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

h) Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử phân tách theo giới;

i) Những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử quốc gia giải quyết;

k) Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.”

Đối với Điều 85 (Khoản 2):

“2. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có những nội dung sau đây:

a) Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu phân tách theo giới;

b) Tổng số người ứng cử phân tách theo giới;

c) Tổng số cử tri phân tách theo giới;

d) Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri;

đ) Số phiếu phát ra;

e) Số phiếu thu vào;

g) Số phiếu hợp lệ;

h) Số phiếu không hợp lệ;

i) Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

k) Danh sách những người trúng cử  theo từng đơn vị bầu cử phân tách theo giới;

l) Những khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử giải quyết;

m) Những việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết;….”

19. Điều 94 về Hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, đề nghị bổ sung Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thành phần cơ quan phối hợp với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trong việc quy định về việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội để bầu cử bổ sung. Khoản 1 Điều 94 đề nghị viết như sau:

 “1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quy định về việc hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội để bầu cử bổ sung”.

20. Luật nên có một quy định riêng về việc khuyến khích người tự ứng cử, đặc biệt là phụ nữ, trong quá trình bầu cử.

Nhìn chung, người tự ứng cử không có trong danh sách bầu cử của bất kỳ tổ chức chính trị nào, và thông tin được cung cấp trên phiếu bầu không thể hiện mối liên hệ của họ đối với bất kỳ tổ chức nào. Việc tự ứng cử đang có xu hướng tăng lên ở các nền dân chủ lâu đời ở châu Âu. Trong 2 kỳ bầu cử vừa qua, số lượng ứng cử viên độc lập ra tranh cử trong các cuộc bầu cử quốc gia đã tăng lên ở hầu hết các nước cho phép ứng cử viên độc lập ra tranh cử. Ở một số nước như Bulgaria, Đan Mạch, Estonia, Pháp, Đức và Ai Len,[68] v.v., ứng cử viên độc lập có thể ra tranh cử với số tiền ký quỹ và số chữ ký có thể đạt ngưỡng tối thiểu hoặc không. Tuy nhiên, quy định trong luật bầu cử yêu cầu ứng cử viên phải có số tiền ký quỹ lớn (mặc dù một số nước cung cấp cho họ một tỷ lệ nhỏ trong ngân sách cho bầu cử giống như cho ứng cử viên của các đảng chính trị) hoặc phải thu thập được số lượng nhất định chữ ký ủng hộ của cử tri, nhất là ở những nước nghèo và có xung đột thì điều này sẽ gây bất lợi cho phụ nữ tự ra ứng cử[69] bởi vì trong nhiều trường hợp, phụ nữ không có đủ năng lực tài chính cho việc ứng cử và không có thời gian tìm người tài trợ.

21. Chưa có điều khoản quy định trách nhiệm giải trình của tất cả các bên liên quan để đảm bảo việc thực hiện luật này và đảm bảo rằng rằng phụ nữ được bầu làm ĐBQH và ĐBHĐND với số lượng phù hợp được đề ra trong Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới và Nghị quyết số 11-NQ/TW.

Do đó, chúng tôi đề nghị:

Bổ sung một Điều trong Chương X về Xử lý vi phạm về bầu cử với quy định Các Uỷ ban bầu cử cấp trung ương và địa phương không chấp nhận danh sách người ứng cử nếu mỗi danh sách không bao gồm cả nam và nữ, với tỷ lệ cân bằng (45-50% thuộc mỗi giới), và nội dung quy định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm cao nhất trong việc thực hiện mục tiêu 35% ĐBQH và ĐBHĐND được bầu là nữ.

Trong cơ chế lập pháp hiện hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm cao nhất trong việc điều chỉnh tỷ lệ, thành phần và số lượng ĐBQH và và hướng dẫn việc bầu cử ĐBHDND các cấp, và cũng có trách nhiệm cao nhất trong việc thực hiện biện pháp đặc biệt tạm thời để đảm bảo tỷ lệ ĐBQH và ĐBHĐND trúng cử thuộc mỗi giới đạt tối thiểu 35% (hoặc xấp xỉ, theo phương án 2), do đó, trách nhiệm giải trình của UBTVQH cần được quy định trong Luật, kèm theo quy định về hình thức xử lý trong trường hợp không tuân thủ như không nhận danh sách cho đến khi đáp ứng chỉ tiêu.

Hơn nữa, do các tổ chức khác, trước tiên là Hội đồng Bầu cử Quốc gia, và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương cũng như Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp cũng có trách nhiệm đối với công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ trong các cuộc bầu cử, kể cả Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội LHPN VN các cấp, do đó các cơ quan này cũng phải có trách nhiệm giải trình đối với quá trình bầu cử, và điều này cần được quy định trong luật với quy định về hình thức xử lý trong trường hợp không tuân thủ. Chúng tôi gợi ý Luật quy định các tổ chức này không chấp nhận danh sách giới thiệu người ra ứng cử nếu các danh sách đó chưa đảm bảo biện pháp đặc biệt tạm thời về tỷ lệ 45-50% ứng cử viên thuộc mỗi giới và việc sắp xếp ứng cử viên (luân phiên) như nêu trên.

22. Dự thảo luật chưa có điều khoản quy định về vận động bầu cử và cách thức tiến hành vận động bầu cử. Chúng tôi đề nghị nên đưa quy định này vào Luật, có lưu ý giới.

23. Một khuyến nghị chung là chế độ tuổi nghỉ hưu của phụ nữ như hiện nay không phù hợp với các nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng như trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Do đó, chúng tôi đề nghị sửa chế độ này để đảm bảo cả nam và nữ được lựa chọn tuổi nghỉ hưu giống nhau hoặc có thể linh hoạt nghỉ sớm hơn từ 3 đến 5 năm. Theo mô hình của châu Âu đang được áp dụng ở nhiều nước châu Âu thì tuổi nghỉ hưu của cả nam và nữ là 64 tuổi, trong đó phụ nữ có thể lựa chọn nghỉ sớm hơn 2 đến 3 năm so với nam giới. Chế độ này cũng đang thay đổi với việc cho phép nam giới có sự linh hoạt khi lựa chọn tuổi nghỉ hưu.

Với điều kiện sống và tuổi thọ tăng lên, xu hướng nghỉ hưu muộn hơn ngày càng phổ biến và tất cả các vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ trước khi đưa ra quyết định và lựa chọn. Vấn đề này rất quan trọng vì nó có tác động lớn đến quá trình giới thiệu ứng cử viên và quá trình bầu cử ở Việt Nam do phụ nữ chưa có (chưa đạt được) cơ hội cân bằng trong việc tham gia vào đời sống chính trị (cũng như trong lực lượng lao động ở mọi ngành nghề, trừ một số ngoại lệ mà trước tiên là không phù hợp với hiến pháp).

24. Một khuyến nghị chung khác là việc lựa chọn phụ nữ tham gia vào quá trình bầu cử ở địa phương nên áp dụng các tiêu chuẩn như đối với nam giới (một số tiêu chuẩn như vậy đã được quy định trong Luật). Không nên chỉ lựa chọn phụ nữ khi họ đáp ứng nhiều tiêu chuẩn cùng lúc – ví dụ như tiêu chuẩn về số lượng, đồng thời là người dân tộc thiểu số, là sinh viên, đại diện khu vực tư nhân, tuổi đời trẻ v.v. như trong nhiều trường hợp đã diễn ra tại các kỳ bầu cử trước đây.

9.      KẾT LUẬN

20 năm sau khi các quốc gia thành viên LHQ chấp thuận kế hoạch thực hiện bình đẳng giới giữa phụ nữ và nam giới, rõ ràng là chưa có quốc gia thành viên nào đạt được bình đẳng giới hoàn toàn, như Giám đốc điều hành UN Women, Bà Phumzile Mlambo-Ngcuka, đã phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 59 của Uỷ ban về Địa vị của phụ nữ diễn ra từ ngày 9-20 tháng 3 năm 2015. BÀàMlambo-Ngcuka hoan nghênh những tiến bộ toàn cầu trong sứ mệnh trao quyền cho phụ nữ nhưng cũng kêu gọi các quốc gia tiến hành những thay đổi quan trọng vì bình đẳng giới trong 5 năm tiếp theo để đạt mục tiêu Planet 50-50 trước năm 2030.[70]

Mặc dù từ Hội nghị Bắc Kinh năm 1995 đến nay đã có tiến triển trong bình đẳng giới, nhất là trong các lĩnh vực y tế cho phụ nữ và giáo dục cho trẻ em gái, nhưng hiện nay mới chỉ có chưa đến 20 người đứng đầu Nhà nước hoặc Chính phủ là phụ nữ, và số lượng nữ nghị sĩ trên toàn thế giới chỉ tăng từ 11% lên 22% trong vòng 2 thập kỷ qua.

Trong dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Eurostat cho biết phụ nữ ở châu Âu được trả lương thấp hơn nam giới 16%. Trên thế giới, nam giới cũng được trả lương cao hơn phụ nữ. Ví dụ, ở Slovenia, sự khác biệt trong mức lương chỉ là 5%, nhưng ở Estonia, Áo, CH Séc và Đức, sự khác biệt có lợi cho nam giới là hơn 20%.

Qua phân tích của báo cáo này, có thể thấy Việt Nam không phải là ngoại lệ và để đảm bảo các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực thì nhiều phụ nữ có năng lực hơn nữa cần được trao cơ hội bình đẳng và được tham gia vào cấp cao nhất của quá trình ra quyết định, tức là tham gia vào Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ.

Hơn nữa, nếu nhiều phụ nữ hơn được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước ở cấp cao nhất, và điều này bản thân nó cũng là một thách thức, thì điều đặc biệt quan trọng là những phụ này phải có quyền thực tế và không chỉ được bầu do đáp ứng về số lượng, chỉ tiêu hay chỉ đạo của Đảng.

Nhìn vào thực tế trên thế giới, phần lớn quyết định nằm trong tay nam giới, những người chi phối cơ cấu của các đảng, và phụ nữ phải đối mặt với nhiều trở ngại trong nội bộ đảng hơn là nam giới. Xu hướng này được thể hiện rõ nét ở nhiều nước trên thế giới, ngay cả ở những nước có số phụ nữ tham gia nghị viện cao, hoặc mức độ bình đẳng giới trong chính trị cao. Ở những nước không áp dụng cơ chế chỉ tiêu thì sự bất bình đẳng giới là rất rõ nét.

Báo cáo này vận động cho việc áp dụng tỷ lệ tối thiểu 35% thuộc mỗi giới. Mục tiêu của việc đảm bảo tỷ lệ trên trong Quốc hội và Chính phủ, trong số các thành viên Chính phủ, là nhằm đảm bảo phụ nữ có được cơ hội thực sự để tiến lên phía trước. Việc thực hiện mục tiêu này cũng giúp Việt Nam hoà nhập với xu hướng chung của thế giới về tăng cường quyền lực của phụ nữ ở cấp cao nhất của quá trình ra quyết địnnh, điều này sẽ có tác động rất tích cực đến nền kinh tế cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Hơn nữa, cần nâng cao năng lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và thực hiện các chính sách bình đẳng giới trong nội bộ đảng, và điều này sẽ được phản ánh trong các chính sách ở phạm vi rộng lớn hơn – những chính sách thiếu yếu với mọi công dân. Trong kỳ Đại hội Đảng sắp tới, việc sắp xếp phụ nữ vào vị trí có thể trúng cử trong các danh sách bầu cử, cũng như đưa phụ nữ vào những vị trí cao nhất trong Chính phủ sẽ gửi đi thông điệp mạnh mẽ đến mọi công dân Việt Nam cũng như các đối tác quốc tế rằng Việt Nam đang vượt qua mọi khuôn mẫu, đang xoá bỏ những định kiến ăn sâu bám rễ, và cởi mở trong việc mang lại cơ hội công bằng cho phụ nữ, giống như đối với nam giới.

Nhiệm vụ này không hề dễ dàng và cũng không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, tuy nhiên, quá trình này cần được tiếp tục, nhất là khi nhìn vào kết quả các kỳ bầu cử gần đây ở Việt Nam, cũng như những cam kết quốc tế trong Chương trình nghị sự sau năm 2015: bình đẳng giới cần là chủ đề cắt ngang trong mọi Mục tiêu Phát triển Bền vững của LHQ (SDGs) sẽ thay thế các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs), và bản thân bình đẳng giới cũng phải là một mục tiêu.

Việt Nam nên đi theo và nên là một phần của xu hướng ngày càng lớn là đảm bảo sự tham gia của một nửa dân số vào các quá trình ra quyết định, cũng như trao quyền thực sự cho những người phụ nữ mạnh mẽ, có năng lực và được đào tạo tốt, những người đang mang lại sự tiến bộ cho đất nước, giống như nam giới.

Những bình luận và khuyến nghị trên nhằm góp phần đảm bảo rằng việc thực hiện hai văn bản pháp luật quan trọng này sẽ đạt được kết quả mong muốn trong những năm tới.

 

 

 

 

 

 

 

10.  MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      United Nations, Beijing Declaration and Platform for Action with the Beijing+5 Political Declaration and Outcome Document, New York, 2001;

2.      United Nations, Women and Election – Guide to promoting the participation of women in elections, 2005;

3.      UNDP, Gender Analysis of Electoral Laws – Recommendations for the Law Drafting Committee, Ha Noi, August 2014;

4.      UNDP, “ Women’s Representation in the National Assembly of Viet Nam – The Way Forward”, Ha Noi, December 2012;

5.      UNDP, Report by Hasna Cheema, “Benchmarking National Legislation for Gender Equality: Findings from Five Asian Countries”, Part 6. “Gender Equality Law Not Sufficient to Secure Women’s Rights in Viet Nam”, 2010;

6.      UNDP Report by Anita Vandenbeld and Ha Hoa Ly, “Women’s Representation in the National Assembly of  Viet Nam – The Way Forward”, p.1, December 2012;

7.      UNDP and Viet Nam MFA, Policy Brief, “Women representation in the National Assembly of Viet Nam”, 2012;

8.      UNDP and Viet Nam MFA, Policy Brief, “Comprehensive Leadership Capacity Building in Viet Nam – An Effective Way to Increase the Representation of Women”, 2012;

9.      UN Women. “Equal Participation of Women and Men in Decision-Making Processes, with Particular Emphasis on Political Participation and Leadership.” Addis Ababa, Ethiopia. October 24, 2005;

10.  UN Women. In Pursuit of Justice: UN WOMEN Progress of the World’s Women 2011-2012”;

11.  UN Women, “Do Our Laws Promote Gender Equality? A Handbook for CEDAW-Based Legal Reviews, revised third edition, 2012;

12.  UNIFEM, “Who Answers to Women: UNIFEM Progress of the World’s Women 2008/2009”;

13.  United Nations, CSW, Consideration of reports submitted by State parties under Article 18 of CEDAW, Seventh and Eight Periodic Reports of Viet Nam, CEDAW/C/VNM/7-8, received 30.01.2013;

14.  European Parliament, Independent candidates in national and European elections, 2013;

15.  OECD Library;

16.  Inter-Parliamentary Union, March 2014, “Progress for women in politics, but glass ceiling remains firm;

17.  Inter - Parliamentarian Union, “Women in Politics: 2014”; 

18.  World Bank, Viet Nam Country Gender Assessment, Washington DC., USA, 2011;

19.  IDEA, Report entitled “Global Overview of Women Political Participation and Implementation of the Quota System”, July 2012;

20.  Edmund Malesky, “Vietnam in 2013: Single-Party Politics in the Internet Age”, Asian Survey, Vol.54, No.1, Jan./Feb.2014;

21.  Paul Schuler, “International Experience with Gender Quotas and Implications for Viet Nam’s Election Law and Law on Organization of the National Assembly, UNDP Report, 2014;

 

22.  Article in Times, “Germany to Require More Women on Corporate Boards”, March 6, 2015;

23.  Article by Ms. Claire Annesley at Democratic Audit, 06.02.2014;

24.  Article in Japan Times, “Only Half of Prefectures have set Female management Quotas”, 24.1.2014;

25.  IDEA, Stockholm University and IPU, Global Data Base of Quotas on Women, accessed January 2015, and IPU;

26.  Report by the NA on DLOG, Feb.2015;

27.  Report by the NA on DLEDNA and PC, Feb.2015;

28.  Viet Nam Ambassadors/Heads of Agency Informal Gender Coordination Group, Advocacy Brief, “Women’s Leadership and Participation in Elected Office”, Sep.2014;

29.  International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR);

30.  The Convention on Elimination of All Form of Discrimination Against Women (CEDAW);

31.  Guidance of United Nations for strengthening women’s participation in elections;

32.  Viet Nam’s Constitution 2013;

33.  Viet Nam Gender Equality Law;

34.  Viet Nam National Strategy for Gender Equality;

35.  Resolution of the Political Bureau 11-NQ/TW, 27.04.2007;

36.  Draft Law on Organization of the Government;

Draft Law on Election of Deputies to National Assembly and to People Councils (DLEDNA and PC);

 

 

 


[1] Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị vào ngày 24/09/1982 (có hiệu lực kể từ ngày 24/12/1982) và phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về việc chống lại tất cả các hình thức chống lại phụ nữ vào ngày 17/02/1982 (có hiệu lực kể từ ngày 19/03/1982).

[2] Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Phân tích giới trong Luật bầu cử  – Recommendations for the Law Drafting Committee Khuyến nghị cho Ủy ban dự thảo Luật, Hà Nội, tháng 8 năm 2014, trang 6.

[3] Cơ quan Phụ nữ Liên Hợp Quốc. “Sự tham gia bình đẳng của Phụ nữ và Nam giới trong quá trình đưa ra quyết định, đặc biệt nhấn mạnh vào việc lãnh đạo và tham gia các hoạt động chính trị.” Addis Ababa, Ethiopia.

24/10/ 2005. http://www.un.org/womenwatch/daw/egm/eql-men/

 

[4]. Xem UN Women, “Theo đuổi Công lý: Tiến bộ của Phụ nữ Thế giới 2011 – 2012”. Báo cáo (tr.27) liệt kê các đạo luật liên quan được Quốc hội Rwanda thông qua trong những năm gần đây: “Luật Thừa kế (1999) quy định bình đẳng giới trong thừa kế và sở hữu tài sản. Chính sách Đất đai Quốc gia (2004) và Luật Đất đai (2005) quy định bình đẳng trong sở hữu đất đai theo luật định và theo tập quán. Luật Phòng chống và Trừng phạt Bạo lực trên Cơ sở Giới được thông qua năm 2008; cưỡng ép tình dục trong hôn nhân bị coi là tội phạm (năm 2009).

[5]. The Quota Project, truy cập ngày 27/1/2015, www.thequotaproject.org

[6] Như trên

[7].Trong Liên minh châu Âu, các biện pháp đặc biệt tạm thời được gọi là “các biện pháp tích cực”; tại Mỹ, chúng được gọi là “hành động mang tính khẳng định”. Ủy ban CEDAW ủng hộ cách sử dụng thuật ngữ như trong Công ước.

[8]. Liên Hợp quốc. 2001. Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh với Tuyên bố Chính trị Bắc Kinh +5 và Văn bản Kết quả. New York: United Nations. tr. 111–113 (đặc biệt là đoạn 190 (a và b))

[9]. Quy chế pháp lý của nó là “luật mềm”. Một số nước thành viên không chấp nhận tính ràng buộc pháp lý của Các Khuyến nghị chung, mặc dù các cơ quan nhân quyền của Liên Hợp quốc, bao gồm Ủy ban CEDAW, kỳ vọng rằng các nước thành viện sẽ hành động một cách thiện chí.

[10]. Khuyến nghị chung số 5 liên quan đến Điều 4(1) và kêu gọi việc áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời trong các lĩnh vực, ví dụ như chính trị. Khuyến nghị chung số 8 liên quan đến Điều 8 và khuyến nghị việc áp dụng Điều 4(1) về sự tham gia của phụ nữ ở cấp độ quốc tế.

[11]. Nguyên nhân ở chỗ: sự phân chia giữa khu vực công/tư; sự không ghi nhận và thậm chí là hạ thấp giá trị công việc của phụ nữ trong khu vực tư nhân; ảnh hưởng của các khuôn mẫu giới; và cấu trúc của hệ thống chính trị.

 

[12]. Thư viện OECD, xem tại http://www.oecd-ilibrary.org/sites/gov_glance-2013-en/06/04/index.html;jsessionid=268hevcjr0vnf.x-oecd-live-01?contentType=&itemId=%2Fcontent%2Fchapter%2Fgov_glance-2013-43-en&mimeType=text%2Fhtml&containerItemId=%2Fcontent%2Fserial%2F22214399&accessItemIds=%2Fcontent%2Fbook%2Fgov_glance-2013-en

[13]. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27 tháng 4 năm 2007

[14]. Điều 26: 1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

[15]. Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới 2011-2020, các mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1 - Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2016-2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%. Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95%Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ (tr.7)

[16]. Luật số 73/2006/QH11.

[17]. See “Ai Trả lời cho Phụ nữ: Báo cáo Tiến bộ của Phụ nữ Thế giới 2008/2009 của UNIFEM”.

[18]. Trích dẫn Thời báo, “Nước Đức yêu cầu có thêm nữ giới trong Ban điều hành tập đoàn” 6/3/2015 tại: http://time.com/3736023/women-corporate-boards-germany/

[19]. Như  trên.

[20]. Theo tính toán của UN Women dựa trên số liệu do Phái đoàn thường trực bên cạnh Liên Hợp quốc cung cấp – Xem thêm tại  http://www.unwomen.org/en/what-we-do/leadership-and-political-participation/facts-and-figures#sthash.WYoDy4s1.dpuf

[21]. Liên minh Nghị viện Thế giới.

[22].  Liên minh Nghị viện Thế giới, “Phụ nữ trong lĩnh vực Chính trị: 2014” – Xem thêm tại: http://www.unwomen.org/en/what-we-do/leadership-and-political-participation/facts-and-figures#sthash.WYoDy4s1.dpuf

[23]. IDEA, Bài viết “Tổng quan toàn cầu về Sự tham gia Chính trị của Phụ nữ và việc Triển khai Cơ chế Chỉ tiêu”, tháng 7/2012.

[24]. Liên minh Nghị viện Thế giới, tháng 3/2014. “Có tiến bộ trong việc phụ nữ tham gia chính trị nhưng vẫn còn giới hạn trần”. “Progress for women in politics, but glass ceiling remains firm. – Xem thêm tại: http://www.unwomen.org/en/what-we-do/leadership-and-political-participation/facts-and-figures#sthash.WYoDy4s1.dpuf

[25]. R. Chattopadhyay và E. Duflo, 2004, “Phụ nữ với tư cách người làm chính sách: Bằng chứng từ một thử nghiệm chính sách được ngẫu nhiên hoá ở Ấn Độ (Women as Policy Makers: Evidence from a Randomized Policy Experiment in India,” ) Econometrica 72(5), tr. 1409–1443; K. A. Bratton và L. P. Ray, 2002, “Đại diện mang tính mô tả: Kết quả chính sách và mật độ cơ sở chăm sóc trẻ em ở địa phương tại Na Uy” (Descriptive Representation: Policy Outcomes and Municipal Day-Care Coverage in Norway) American Journal of Political Science, 46(2), tr. 428–437. – Xem thêm tại: http://www.unwomen.org/en/what-we-do/leadership-and-political-participation/facts-and-figures#sthash.WYoDy4s1.dpuf

[26]. Bài viết của Bà Claire Annesley trong Democratic Audit, 06.02.2014, xem tại: http://www.democraticaudit.com/?p=2933

[27] CEDAW Điều 7:“ Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và cộng đồng của đất nước và đặc biệt là phải đảm bảo cho phụ nữ, trên cơ sở bình đẳng với nam giới… (b) được tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, tham gia vào bộ máy và các chức vụ nhà nước ở mọi cấp chính quyền;…”

[28] Bài viết của Bà Claire Annesley trong Democratic Audit, 06.02.2014, xem tại: http://www.democraticaudit.com/?p=2933

[29]. Như trên

[30]. Japan Times, 24.1..2014, web page: http://www.japantimes.co.jp/news/2014/11/24/national/half-prefectures-set-female-management-quotas/#.VMj61kfF-Qc

[31]. Anita Vandenbeld và Ha Hoa Ly, Báo cáo của UNDP “Sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội Việt Nam – Con đường tiến về phía trước “, tr.1, tháng 12/2012.

[32]. LHQ, 2005, Phụ nữ và bầu cử - Hướng dẫn thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong bầu cử.

[33]. UNDP, “Phân tích giới về Luật bầu cử Việt Nam – Khuyến nghị đối với Ban dự thảo luật, Hà Nội, 2014, tr.9.

[34]. Như trên.

[35]. Tính toán của UN Women dựa trên IDEA, ĐH Stockholm và Liên minh Nghị viện Thế giới, Cơ sở dữ liệu toàn cầu về Chỉ tiêu liên quan đến Phụ nữ, truy cập tháng 1/2-015 và Liên minh Nghị viện Thế giới, http://www.ipu.org/wmn-e/world.htm.

[36]. NT.

[37]. UNIFEM, 2008, Tiến bộ của Phụ nữ Thế giới 2008/2009? Ai trả lời cho Phụ nữ? (Progress of the World’s Women 2008/2009: Who Answers to Women?) New York.

[38]. Như trên, trang 10.

[39]. Như trên.

[40] Điều 6. “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. 

[41]. Điều 7: “1. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. 2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.”

[42]. Xem supra note 1. Ví dụ, nguyên tắc bình đẳng giới được quy định trong Điều 1, Điều 4 (Khoản 2) của Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND).

[43]. Xem Báo cáo của Quốc hội về Luật Bầu cử ĐBQH và DDBHĐND, tháng 2/2015.

[44]. Cơ quan phụ nữ quốc gia dưới hình thức Vụ Bình đẳng giới thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội được thành lập năm 2008. Hơn nữa, cơ quan liên lĩnh vực, có chức năng tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ - Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ - được chuyển từ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sang Bộ LĐTBXH. Do đó, Bộ LĐTBXH có nhiệm vụ thực hiện Luật Bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, và báo cáo việc thực hiện Công ước CEDAW.

 

[45] Trong nhiệm kỳ thứ 12 của Quốc hội (2007-2011), có 276 ứng cử viên nữ (chiếm 38.60%) và 127 nữ đại biểu quốc hội (chiếm 25.8%). Việt Nam xếp thứ 28 trên thế giới và thứ 2 trong số các nước ASEAN có nghị viện (sau Đông Timor) và thứ 3 tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, nghĩa là Nhiệm kỳ thứ 13 (2011-2016), Việt Nam xếp thứ 39 trên thế giới, thứ 3 trong số các nước ASEAN (sau Đông Timor và Lào) và twhs 6 ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, với 122 nữ đại biểu quốc hội (chiếm 24.40%) trong số 293 ứn cử viên nữ (chiếm 33.29%). Trong nhiệm kỳ thứ 13 của Quốc hội, có 2 Phó Chủ tịch Quốc hội là nữ và 2 uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là nữ, và đây là một tiến bộ tích cực. Xem Báo cáo của Quốc hội về dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, tháng 2/2015.

[46]. Xem Báo cáo của Quốc hội về dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, tháng 2/2015..

[47]. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.

[48] Chỉ tiêu 2 của Mục tiêu 1 của Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới: “Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ”.

[49]. Xem Báo cáo của Quốc hội về dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, tháng 2/2015.

[50] Ví dụ, trong dự thảo Luật TCCP: Xác định Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý thực hiện các chính sách xã hội (Khoản 3 Điều 14): Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; bảo vệ, chăm sóc người mẹ và thực hiện quyền trẻ em; trợ giúp người già, người khuyết tật, người nghèo và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt; có biện pháp ngăn ngừa và chống mọi hành vi bạo lực, xúc phạm nhân phẩm đối với phụ nữ và trẻ em; Xác định Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý về y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân (Khoản 3 Điều 13): Tổ chức thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, bảo đảm cân bằng giới tính, nâng cao chất lượng dân số; bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em; Xác định trách nhiệm của Chính phủ - Thủ tướng Chính phủ trong việc mời Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam dự các phiên họp trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; thường xuyên thông báo cho Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội về tình hình kinh tế - xã hội và các quyết định, chủ trương, công tác lớn của Chính phủ (Khoản 4 Điều 46).

[51].Xem Báo cáo của Quốc hội về dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, tháng 2/2015.;

[52]. Xem Báo cáo của Quốc hội về dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND, tháng 2/2015.

[53]. Bản Phân tích Giới của Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND các cấp (dự thảo ngày 9/9/2014), tháng 12/2014.

[54]. Nt.

[55] Tổng số cử tri là khoảng 62.610.289 người

(nguồn: http://www.idea.int/vt/countryview.cfm?CountryCode=VN)

[56] Khuyến nghị của cơ quan LHQ về Tăng cường Bình đẳng giới trong dự thảo Luật Bầu cử ĐBQH và ĐBHĐNDN, tháng 2/2015, Khuyến nghị số 6.

[57]. Nt. Khuyến nghị số 8.

[58]. Có thể thực hiện theo Khuyến nghị của LHQ trong Supra note 56, khuyến nghị số 3: tên ứng cử viên thuộc giới có số lượng ứng cử viên ít hơn được sắp xếp trên danh sách theo thứ tự sau: Ít nhất 1 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 2 ứng cử viên đầu tiên; 2 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 5 ứng cử viên đầu tiên; 3 ứng cử viên của giới có số lượng ứng cử viên ít hơn trong số 8 ứng cử viên đầu tiên

[59]. Supra note 2.

[60]. Tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử đại biểu quốc hội khoá 13 là 31.3% và tỷ lệ nữ ĐBQH là 24.4%; tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND tỉnh Thừa Thiên Huế là 30.9% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND tỉnh chỉ là 13.4%, tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND tỉnh Hoà Bình là 27% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND tỉnh chỉ là 18.3%, tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND xã Dũng Phong là 17.9% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND xã chỉ là 8%.

[61]. Tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND tỉnh Tuyên Quang là 50% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND tỉnh là 46.6%, tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND tỉnh Yên Bái là 40% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND tỉnh là 37.3%, tỷ lệ nữ trong số những người được giới thiệu ứng cử ĐBHĐND phường Tân Thịnh là 40% và tỷ lệ nữ ĐBHĐND phường là 45.8 %

[62]. Có 827 người được giới thiệu và tự ứng cử ĐBQH khoá 13, được chia về 183 khu vực bầu cử. 28 trong số 183 khu vực bầu cử có danh sách ứng cử viên toàn là nam, 41 trong số 183 khu vực bầu cử có số ứng cử viên chỉ nhiều hơn số người được bầu có 1 người, điều này không phù hợp với quy định của Điều 46 Luật Bầu cử ĐBQH sửa đổi, kể cả theo quyết định của Hội đồng Bầu cử Trung ương

[63]. Supra note 2

[64]. Uỷ ban Bầu cử tỉnh Hoà bình và Uỷ ban bầu cử xã Dũng Phong (huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình) không sắp xếp danh sách ứng cử viên theo vần chữ cái mà theo chứ vụ lãnh đạo. Hầu hết các lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Hoà Bình và xã Dũng Phong được xếp ở vị trí đầu trong danh sách ứng cử viên.

[65] Có thể thực hiện theo khuyến nghị tại Supra Note 58

[66]. Supra Note 58.

[67]. Cũng trong Supra Note 58, Khuyến nghị số 10.

[68]  Nghị viện châu Âu, 2013, Ứng cử viên độc lập trong các cuộc bầu cử quôc gia và bầu cử châu Âu

[69]. LHQ, 2005, Phụ nữ và Bầu cử - Hướng dẫn thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong bầu cử

[70]. UN Women web site, www.unwomen.org, truy cập 12/3/2015.

 

Các bài viết khác